- Tranh chấp gì? "Mạc Khánh H - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật t tụng Hình sự; Điều 357 Bộ luật t tụng Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 103/2018/HSPT Ngày 27-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc.
Các Thẩm phán: Ông Đ Đ ng Chung và ông Ph m Văn C nh.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huế -Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị T uyên - Ki m sát viên trung c p.
Ngày 27 tháng 11 năm 2018, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s : 103/2018/HSPT ngày 05 tháng 11 năm 2018 đ i với bị cáo: M c Khánh H, do có kháng cáo của bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s : 33/2018/HSST ngày 25 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
1. Bị cáo có kháng cáo: Mạc Khánh H, sinh năm 1991, t i tỉnh H i Phòng; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã N, huyện K, thành ph H i Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; Nơi cư trú: không xác định; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông M c Như X, sinh năm 1966 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1963; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt t m giữ từ ngày 01-12-2017 đến ngày 04-12-2017 chuy n sang biện pháp t m giam; bị cáo hiện đang bị t m giam t i Nhà t m giữ công an huyện Cư Jút - Có m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Vào tháng 6-2016, M c Khánh H làm thuê cho Công ty cổ phần H do bà Bùi Thị H là chủ, công việc của H là lái xe, cân đo, xu t kho đậu xanh khi có lệnh của bà H. Đến kho ng đầu tháng 7-2017, nghỉ làm ở Công ty cổ phần H, H đến làm việc cho ông Bùi Qu c T và Trần Anh T. Ông Bùi Qu c T và Trần Anh T góp v n làm ăn chung và có thuê l i một phần m t bằng, kho của công ty H đ kinh doanh ruột chanh dây. T i công ty của ông T thì H giao nhiệm vụ qu n lý nhà xưởng, ch m công cho công nhân và chi tr lương, thu mua ruột chanh dây. Thời gian này do H vẫn ở trọ gần công ty và thường xuyên ra vào khu vực công ty nên Tiến (là b o vệ công ty H) vẫn nghĩ là H vẫn làm thuê cho bà Huê.
Từ kho ng đầu tháng 7-2017 đến giữa tháng 9-2017 bà H đi công tác ở ngoài miền Bắc, có Trần Việt T ở l i làm nhiệm vụ b o vệ; ông Bùi Qu c T và Trần Anh T cũng đang đi công tác nên H làm nhiệm vụ qu n lý kho chanh dây. Đến giữa tháng 8-2017, H n y sinh ý định chiếm đo t s đậu xanh trong kho của công ty H nên H liên l c với bà Trang Thị Thanh H (Đ i lý thu mua nông s n) ở thị tr n P, huyện K, Đăk Lăk thỏa thuận bán cho bà H kho đậu xanh thì bà H đ ng ý. H đã thuê xe của anh Nguyễn Văn H chở 02 lần, xe của bà Trang Thị Thanh H đến chở 02 lần, tổng cộng chở 04 lần đậu xanh ở kho công ty H, cụ th :
Lần 01: kho ng giữa tháng 8-2017, xe của anh H chở 3.640kg đậu xanh với s tiền bán được là 47.000.000 đ ng. S tiền này anh Nguyễn Tiến T đi cùng xe anh H l y khi giao hàng cho bà H, sau đó T đưa tiền về đưa cho H.
Lần 2: Xe của bà H đến chở 9.500kg với s tiền bán được là 152.000.000 đ ng. S tiền này người làm thuê của bà H đưa trực tiếp cho H.
Lần 3: Xe của anh H chở 4.600kg đậu xanh với giá bán là 73.000.000 đ ng. S tiền này anh H giao hàng xong l y ch bà H đưa về cho H.
Lần thứ 4: Xe của bà H đến chở 7.900kg đậu xanh với s tiền bán được là 110.000.000 đ ng. S tiền này người làm thuê của bà H đưa cho trực tiếp cho H.
Tổng s đậu xanh H đã bán cho bà H là 25.640kg với tổng s tiền là 382.000.000 đ ng.
uá trình điều tra xác định được vào lần thứ nh t khi xe anh H đến công ty H chở đậu xanh thì H nói với anh T (b o vệ) là “em xuất đậu cho cô H, em bàn với cô rồi”, nghe vậy nên T mở cửa cho xe của anh H vào chở đậu xanh, những lần sau thì anh T không hỏi và mở cổng cho xe vào chở đậu xanh. Sau khi bán đậu xanh, H sử dụng tiền vào mục đích chơi điện tử, tiêu xài cá nhân hết và tiếp tục làm thuê cho ông T.
Kho ng đầu tháng 9-2017, bà H gọi cho H nói chuẩn bị có người đến xem đậu xanh và nhờ H dẫn khách vào công ty xem. Lúc này, sợ sự việc bị phát hiện nên H n y sinh ý định chiếm đo t s lượng ruột chanh dây của ông Bùi Qu c T và anh Trần Anh T đ bù l i s đậu xanh chiếm đo t của bà H. H đã liên l c với Nguyễn Văn X (giám đ c công ty TNHH MTV thương M i N, Đăk Nông) thỏa thuận bán 25 t n ruột chanh dây với giá 9.000đ/01kg thì ông X đ ng ý. Đến ngày 09-9-2017, ông X đưa xe đến chở chanh dây thì Trần Việt T mở cửa cho xe vào, ông X chỉ mua được 20.210kg ruột chanh dây nên thỏa thuận bán với s tiền 180.000.000 đ ng, ông X đưa trước cho Hiệp 150.000.000 đ ng, s còn l i sau khi chở hàng về ki m tra ch t lượng sẽ đưa sau.
Sau khi nhận tiền xong, H vẫn làm việc ở công ty, ngày 10-9-2017, H gọi cho bà H nói d i là có người mua đậu xanh với giá đậu cũ là 15.000đ/kg thì bà H không đ ng ý. Sau đó H nói với anh T “nếu cô H hỏi đậu xanh thì nói đã bán vào ngày 10-9-2017”, đến ngày 11-9-2017, H bỏ tr n khỏi địa phương và tiêu xài cá nhân hết s tiền đã chiếm đo t. Ngày 01-12-2017, H bị bắt truy nã.
- Vật chứng vụ án:Thu giữ g m 30.000.000 đ ng của ông Nguyễn Văn X; Đ i với 25.640kg đậu xanh bà H đã bán l i cho người khác nên không thu giữ được và 20.210kg ruột chanh dây, sau khi mua về ông X đã bán l i cho người khác nên không thu giữ được.
B n kết luận định giá tài s n s : 26/2017/KL-HĐĐG ngày 20-10-2017 của Hội đ ng định giá tài s n trong t tụng hình sự huyện Cư Jút, kết luận: 20.210kg ruột chanh dây t i thời đi m chiếm đo t ngày 09-9-2017 có giá là 262.730.000 đ ng.
B n kết luận định giá tài s n s : 06A/KL-HĐĐG ngày 11-03-2018 của Hội đ ng định giá tài s n trong t tụng hình sự huyện Cư Jút, kết luận: 25.640kg đậu xanh h t t i thời đi m bị chiếm đo t giữa tháng 8-2017 có giá là 397.420.000 đ ng.
Ngày 28-11-2017, cơ quan c nh sát điều tra công an huyện Cư Jút ra quyết định xử lý vật chứng, tr l i cho ông Bùi Qu c T và ông Trần Anh T s tiền 30.000.000 đ ng.
B n cáo tr ng s 32/CTr-VKS ngày 13-8-2018 của Viện ki m sát nhân dân huyện Cư Jút truy t bị cáo M c Khánh H về các tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n” và tội “L m dụng tín nhiệm chiếm đo t tài s n” theo quy định t i đi m a kho n 3 Điều 174 và kho n 3 Điều 175 của Bộ luật hình sự 2015.
T i b n án sơ thẩm s 33/2018/HSST ngày 25-9-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông: Áp dụng đi m a kho n 3 Điều 139 của BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; đi m s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử ph t bị cáo M c Khánh H 11 năm tù về tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n”.
Căn cứ kho n 3 Điều 175; đi m s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử ph t bị cáo M c Khánh H 06 năm tù về tội “L m dụng tín nhiệm chiếm đo t tài s n”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình ph t bị cáo M c Khánh H ph i ch p hành là 17 năm tù. Thời h n ch p hành hình ph t tù tính từ ngày bắt t m giữ, t m giam là ngày 01-12-2017.
Ngoài ra, B n án còn tuyên quyết định xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ nộp án phí và tuyên quyền kháng cáo của b n án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01-10-2018 bị cáo M c Khánh Hiệp kháng cáo xin gi m nhẹ hình ph t.
T i phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin gi m nhẹ hình hình ph t đ i với tội: “Lừa đ o chiếm đo t tài s n”.
uan đi m gi i quyết vụ án của đ i diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đak Nông th hiện như sau: Áp dụng đi m a kho n 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật t tụng hình sự: Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo xin gi m nhẹ hình ph t về tội: “Lừa đ o chiếm đo t tài s n”.
- Về tư cách tham gia t tụng trong vụ án: Tòa án c p sơ thẩm xác định bà Bùi Thị H là bị h i trong vụ án là chưa đúng, mà cần xác định anh Trần Việt T là người bị h i trong vụ án và bà Bùi Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, xác định bị cáo ph i b i thường cho Công ty Cổ phần H s tiền bị cáo đã chiếm đo t, nên chỉ cần nêu đ Tòa án c p sơ thẩm rút kinh nghiệm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra t i phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết qu tranh luận t i phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Ki m sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi ph m tội phù hợp với lời khai của bị cáo t i cơ quan điều tra, t i phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong h sơ vụ án, th hiện: Giữa tháng 8-2017, M c Khánh H bằng thủ đo t gian d i, cung c p thông tin không đúng sự thật với người b o vệ kho về việc được sự đ ng ý của chủ sở hữu tài s n, H đã bán cho bà H là 25.640kg đậu xanh với tổng s tiền theo kết qu định giá là 397.420.000 đ ng. Do đó, B n án hình sự sơ thẩm s : 33/2018/HSST ngày 25-9-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông kết án bị cáo M c Khánh H về tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n” theo quy định t i đi m a kho n 3 Điều 139 của Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Kho n 3 Điều 139 của BLHS 1999 quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gâu hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
...
3. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
...”
Xét kháng cáo xin gi m nhẹ hình ph t của bị cáo M c Khánh H, Hội đ ng xét xử xét th y: Bị cáo là người có nhân thân t t. uá trình điều tra, xét xử vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i c i về hành vi ph m tội nên bị cáo được hưởng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i đi m s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo chiếm đo t tài s n trị giá 397.420.000 đ ng, Tòa án c p sơ thẩm áp dụng mức hình ph t 11 năm tù đ i với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Do đó, xét th y cần xem xét gi m nhẹ hình ph t tù cho bị cáo.
Ngoài ra, Tòa án c p sơ thẩm xác định bà Bùi Thị H là bị h i trong vụ án là chưa đúng, mà cần xác định anh Trần Việt T là người bị h i trong vụ án và bà Bùi Thị H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do về b i thường thiệt h i: C p sơ thẩm buộc bị cáo ph i b i thường cho bà Bùi Thị H s tiền 397.420.000 đ ng, bị cáo đã đ ng ý b i thường, t i phiên Tòa phúc thẩm bị cáo cũng ch p nhận b i thường cho bà H s tiền bị cáo đã chiếm đo t. Vì vậy Hội đ ng xét xử cần nhận bị cáo ph i b i thường cho Công ty cổ phần H, người đ i diện là bà Bùi Thị H s tiền 397.420.000 đ ng. Nội dung này cần nêu ra đ Tòa án c p sơ thẩm rút kinh nghiệm.
Về án phí: Do kháng cáo được ch p nhận một phần nên bị cáo không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào đi m b kho n 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật t tụng Hình
sự năm 2015.
1. Ch p nhận một kháng cáo của bị cáo, sửa b n án hình sự sơ thẩm s : 33/2018/HSST ngày 25-9-2018 của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông phần hình ph t về tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n” đ i với bị cáo M c Khánh H;
Áp dụng đi m a kho n 3 Điều 139 của BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; đi m s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử ph t bị cáo M c Khánh H 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đ o chiếm đo t tài s n”;
Căn cứ kho n 3 Điều 175; đi m s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử ph t bị cáo M c Khánh H 06 (sáu) năm tù về tội “ L m dụng tín nhiệm chiếm đo t tài s n”;
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình ph t bị cáo M c Khánh H ph i ch p hành là 14(mười bốn) năm tù. Thời h n ch p hành hình ph t tù tính từ ngày bắt t m giữ, t m giam là ngày 01-12-2017.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ kho n 2 Điều 99 của Bộ luật t tụng hình sự; đi m b kho n 2 Điều 23 của Nghị quyết s 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ u c hội:
Bị cáo M c Khánh H không ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND c p cao t i TP.HCM; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng HSNVCS - CA tỉnh; - TAND huyện Cư Jút; - VKSND huyện Cư Jút; - Công an huyện Cư Jút; - Chi cục THADS huyện Cư Jút; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu, Tổ Hành chính tư pháp. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký tên và đóng d u) Bùi Thị Ngọc |