- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hạng A T 03 (ba) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 103/2022/HS-ST Ngày: 28 - 9 - 2022 ơ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đà và ông Vừ A Câu
- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Thào A Sùng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2022/TLST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Hạng A T (tên gọi khác: không); sinh ngày 01/01/1994 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ học vấn: 8/12; con ông: Hạng Sua L, sinh năm 1969 và bà Vàng Thị D, sinh năm 1970; vợ: Vừ Thị K, sinh năm 1995 và có 05 người con, con lớn nhất năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính; bị tạm giữ từ ngày 26/4/2022 đến 29/4/2022 tạm giam cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 6 giờ ngày 26/4/2022 tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với công an xã P làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực bản H, xã P, huyện Đ bắt quả tang Hạng A T tàng trữ trái phép 19 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine trong nhà nên lập biên bản thu giữ số ma túy trên cùng với số tiền 740.000đ; một cân tiểu ly và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Gionee L800. Hạng A T khai nhận số viên nén trên là ma túy tổng hợp mua của Hạng A C trú cùng bản cách thời điểm bị bắt 10 ngày, Hạng A T mua của C 140 viên ma túy tổng hợp giá 1.400.000đ, mục đích để sử dụng và bán lẻ, sau khi mua được đến trước khi bị bắt Hạng A T đã sử dụng nhiều lần và bán cho nhiều người (03 lần bán cho người nghiện không rõ tên tuổi địa chỉ, một lần bán cho Hạ A C, sinh năm 1996, trú cùng bản 14 viên; một lần bán cho Hạ A G trú cùng bản 20 viên. Tổng số tiền bán ma túy 05 lần là 740.000đ). Số viên ma túy tổng hợp còn lại 19 viên chưa kịp sử dụng và bán thì bị phát hiện bắt giữ.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng, trích mẫu giám định ngày 26/4/2022 và Kết luận giám định số 620/KL-KTHS ngày 06/5/2022 kết luận 19 viên nén màu hồng thu của Hạng A T có khối lượng 1,86 gam, mẫu trích 0,19 gam gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 626/KL-KTHS ngày 06/5/2022 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận toàn bộ số tiền 740.000đ là tiền thật.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được Hạ A C và Hạ A G cùng trú tại bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vì những đối tượng này vắng mặt tại địa phương; những người mua ma túy của bị cáo không rõ thông tin nên cũng chưa điều tra làm rõ được.
Tại Cáo trạng số 79/CT-VKSĐBĐ ngày 14/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Hạng A T về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy " theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hạng A T về tội mua bán trái phép chất ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hạng A T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 1,67 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo số tiền 740.000đ, một cân tiểu ly và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Gionee L800. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Hạng A T bị truy tố thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo khai nhận đã có hành vi mua 140 viên ma túy tổng hợp về sử dụng và bán lẻ, từ khi mua được ma túy đến ngày bị bắt bị cáo đã sử dụng nhiều lần và bán cho nhiều người nghiện thu được số tiền 740.000đ, số ma túy còn lại 19 viên chưa kịp sử dụng và bán thì bị phát hiện bắt giữ vào ngày 26/4/2022.
Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 26/4/2022; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định; kết luận giám định, các bản cung, bản kết luận điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ nhận định, bị cáo Hạng A T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ sự nghiêm cấm của pháp luật về hành vi mua bán trái phép chất ma túy tuy nhiên bị cáo vẫn cố ý mua ma túy về sử dụng và bán lẻ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước. Mặc dù bị cáo khai nhận đã bán ma túy nhiều lần cho nhiều đối tượng nghiện thu được số tiền 740.000đ nhưng ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh lời khai trên của bị cáo là có căn cứ, số tiền 740.000đ cũng không đủ căn cứ xác định đây là số tiền bị cáo bán ma túy mà có. Do đó, Viện kiểm sát không đủ căn cứ truy tố bị cáo về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần và tại phiên tòa hôm nay, một lần nữa qua lời khai nhận tội của bị cáo, xem xét các tài liệu trong hồ sơ Hội đồng xét xử cũng chỉ đủ căn cứ kết luận bị cáo Hạng A T đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố. Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng lại nghiện chất ma túy từ đó mua ma túy sử dụng và bán lẻ nên phạm tội như ngày hôm nay. Bị cáo sẽ phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình đã thực hiện.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận phân tích đề xuất về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Như phân tích tại các mục [1] và [2] Hội đồng xét xử cần chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình, xã hội và nhằm thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm về ma túy đang là tệ nạn nhức nhối xảy ra trong xã hội, đặc biệt là tại địa bàn địa phương.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự nhưng xét thấy thu nhập của bị cáo chỉ dựa vào làm nông nghiệp, kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo nghiện chất ma túy, không có tài sản riêng do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát đã đề xuất.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Vật chứng thu giữ của bị cáo Hạng A T là 1,86 gam Methamphetamine đã trích giám định hết 0,19 gam còn 1,67 gam là chất thuộc Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Số tiền 740.000đ; chiếc cân tiểu ly và chiếc điện thoại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Gionee L800 ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh những tài sản trên liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Hình sự cần trả lại cho bị cáo Hạng A T.
. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc Mông sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa điều tra xử lý được Hạ A C và Hạ A G cùng trú tại bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vì những đối tượng này vắng mặt tại địa phương; những người mua ma túy của bị cáo không rõ thông tin nên cũng chưa điều tra làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hạng A T ( tên gọi khác: không) phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hạng A T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2022.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 1,67 gam Methamphetamine ( đã trừ giám định).
- Trả lại cho bị cáo Hạng A T những tài sản sau:
+ Số tiền 740.000đ ( Bảy trăm bốn mươi nghìn đồng);
+Một chiếc cân tiểu ly
+ Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Gionee L800 .
Vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 14/9/2022 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 28 tháng 9 năm 2022./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan điều tra C.A huyện Đ; - Phòng NVHS CA huyện Đ; - CCTHADS huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga Lò Văn Hiến Tòng Văn Quân |