| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VƯC 4 – CÂN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2026/HSST Ngày: 23 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VƯC 4 - CÂN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Dẫn
2. Bà Thái Ánh Trinh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huynh Như –Thư ký Toà án nhân dân Khu vưc 4 - Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Khu vưc 4 – Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại tru sơ Toa án nhân dân Khu vưc 4 – Cần Thơ, tiên hành xét xử sơ thẩm công khai vu án hình sư thu lý số 97/2026/HSST ngày 28 tháng 5 năm 2026, theo Quyêt định đưa vu án ra xét xử số 573/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2026, đối với bị cáo:
- Họ và tên: HUỲNH CÔNG ĐƯƠNG; tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Sinh ngày: 01/01/1969; Nơi sinh: T. Nơi cư trú: tổ F, ấp T, xã T, tỉnh An Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 07/12. Nghề nghiệp: chạy xe ôm. Đảng, đoàn thể: Không. Con ông: Huỳnh Văn T, không xác định năm sinh (đã chêt); con bà: Nguyễn Thị H, không xác định năm sinh (đã chêt). Anh, chị em ruột: 05 người, lớn nhất sinh năm 1963, nhỏ nhất sinh năm 1978. Vợ: Dương Thị D, sinh năm 1969; Con: có 01 người con, sinh năm 1997; Tiền án, tiền sư: không.
- Bị can Huỳnh Công Đ đang bị áp dung biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi cư trú” từ ngày 26/02/2026 đên nay tại xã T, tỉnh An Giang. Có mặt.
Đại diện bị hại:
Anh Tống Văn L – sinh năm 1988, chị Nguyễn Thị Cẩm H1 – sinh năm 1998 (cha, mẹ của cháu Tống Gia N – sinh ngày 27/11/2020). Cư trú: Ấp C, xã C, tỉnh An Giang. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Dương Thị N1 - sinh năm 1974. Vắng mặt.
Cư trú: Ấp N, xã N, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Đình H2 – sinh năm 1985. Có mặt
- Chị Trương Thị Huynh M – sinh năm 1993. Vắng mặt
Cùng cư trú: Ấp D, xã T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VU ÁN:
Qua các tài liệu có trong hô sơ vụ án và quá trinh xet hoi, tranh luân tại phiên toa, nội dung vụ án được tóm tăt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 24/02/2025 Huỳnh Công Đ điều khiển xe môtô biển số 68T1-292.19 một mình đi từ nhà ơ ấp T, xã T, tỉnh An Giang trên Quốc lộ H, hướng từ xã T, tỉnh An Giang đên phường T, thành phố Cần Thơ. Khi đên trạm tín hiệu đèn giao thông (đèn xanh đỏ), số A thuộc ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ thì có tín hiệu đèn đỏ nên Đ cho xe chạy chậm lại, trả số xe về số 1, khi đèn giao thông chuyển sang màu xanh thì Đ tăng ga chạy, chuyển số xe sang số 2. Lúc này tốc độ xe của Đ là khoảng 15-20 km/giờ, phía trước có xe mô tô biển số 67T1-6296 do chị Nguyễn Thị Cẩm H1 điều khiển chơ cháu Tống Gia N ngồi trước và bà Dương Thị N1 ngồi phía sau đang lưu thông cùng chiều. Đ điều khiển xe mô tô từ phía sau chạy vượt lên bên trái xe của chị H1, khi xe chưa qua hêt xe của chị H1, lúc này Đ nhìn thấy phía trước có xe ngược chiều chạy đên chuyển hướng sang trái chạy về hướng xã C nên Đ điều khiển xe lách về bên phải hướng đi dẫn đên phần đuôi xe của Đ (bộ phận giảm thanh - pô xe) va chạm vào phần đầu xe (mỏ vè) của xe do chị H1 điều khiển, bị va chạm bất ngờ làm xe chị H1 bị lạc tay lái qua phần đường bên trái va chạm với xe ô tô tải biển kiểm soát 65H - 020.84 do anh Nguyễn Đình H2 điều khiển theo hướng ngược lại. Hậu quả làm chị H1, bà N1 và cháu Gia N té ngã xuống lộ bị thương và được đưa đên Bệnh viện cấp cứu.
- Tại Kêt luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 110/KLTTCT-TTPYCT ngày 26/09/2025 của Trung tâm pháp y thành phố C kêt luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Tống Gia N là 75%.
Đối với bà Dương Thị N1 và chị Nguyễn Thị Cẩm H1 đã từ chối giám định thương tích của mình.
- Tại Kêt luận giám định số 370/KL-KTHS ngày 05/02/2026 của Phân Viện khoa học hình sư tại Thành phố Hồ Chí Minh kêt luận: Cơ chê hình thành dấu vêt va chạm, chiều hướng dấu vêt va chạm trên xe mô tô biển số 68T1-292.19 và xe mô tô biển số 67T1-6296:
+Dấu vêt trượt xước, bám chất màu đen, đỏ mặt ngoài phía sau bên phải ốp pô và pô xe môtô biển số 68T1-292.19, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vêt phía trước bên trái xe mô tô biển số 67T1-6296 (trượt xước, mất chất màu đen mặt ngoài cánh yêm; trượt xước, mất chất màu đỏ mặt ngoài bên trái cung trước chắn bùn bánh trước) có chiều sau về trước, từ trái sang phải.
+ Dấu vêt phía trước bên phải xe mô tô biển số 67T1-6296 (trượt xước, bám chất màu đen mặt kính bên phải đèn chiêu sáng, đèn chuyển hướng, ốp phía trên đèn chuyển hướng) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với phương tiện khác khi xe mô tô biển số 67T1-6269 đã ngã xuống mặt đường.
+ Khi va chạm, xe mô tô biển số 67T1-6296 chuyển động trên Quốc lộ H, hướng xã T đi xã T; xe mô tô biển số 68T1-292.19 chuyển động bên trái cùng chiều với xe mô tô biển số 67T1-6296.
+ Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 68T1-292.19 với xe mô tô biển số 67T1- 6296 chiêu xuống mặt đường nằm ơ phần đường bên phải trên Quốc lộ H, hướng xã T đi hướng xã T.
- Tại Kêt luận giám định số 94/KL-KTHS ngày 27/02/2026 của Phong K, Công an thành phố C kêt luận: Không tìm thấy dấu vêt cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video mẫu cần giám định Ký hiệu A1. Không đủ cơ sơ xác định tệp video Ký hiệu A2 có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video hay không. Do nội dung hình ảnh video được ghi lại qua màn hình của thiêt bị khác phát video đó (tương tư điện thoại di động).
- Quá trình kiểm tra không tìm thấy chất ma tuý trong hơi thơ của Huỳnh Công Đ vào ngày 25/02/2025.
- Về trách nhiệm dân sư: Gia đình bị hại Tống Gia N và bị cáo Huỳnh Công Đ đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 131.500.000 đồng, hiện tại Đương đã bồi thường xong; đại diện bị hại đã làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sư cho Đ.
Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 65H-020.84, xe môtô biển số 68T1-292.19 và xe môtô biển số 67T1-6296, Cơ quan điều tra đã ra quyêt định xử lý trả lại cho chủ sơ hữu theo quy định pháp luật.
* Tại Cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vưc 4 - Cần Thơ, truy tố Huỳnh Công Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên toa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Kiểm sát viên thưc hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hinh sự: Áp dung điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Công Đ từ 01 (một) năm đên 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dung.
- Về trách nhiệm dân sự:
Công nhận bị cáo Huỳnh Công Đ đã thoản thuận bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại có đại diện là chị Nguyễn Thị Cẩm H1 nhận với tổng cộng số tiền là 131.500.000 đồng (một trăm ba mươi mốt triệu, năm trăm ngàn đông) xong, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm.
- Về xư ly vât chưng:
+ Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại 01 xe môtô biển kiểm soát 68T1-292.19 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 68T1-292.19 cho Huỳnh Công Đ; trả lại 01 xe môtô biển kiểm soát 67T1-6296 cho bà Dương Thị N1 xong.
+ Trả lại Huỳnh Công Đ 01 giấy phép lái xe hạng A1, sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ bảo hiểm màu vàng (vàng đồng), trên mũ có ghi “Bưu điện K1”; 01 áo sơ mi tay dài, màu xanh; 01 quần sọt, màu đen. Do không có giá trị sử dung, không có yêu cầu nhận lại.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHÂN ĐINH CỦA HỘI ĐÔNG XET XƯ:
Trên cơ sơ nội dung vu án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vu án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thưc hiện đúng về thẩm quyền, trình tư thủ tuc quy định của Bộ luật Tố tung hình sư. Quá trình điều tra và tại phiên toa không có người nào khiêu nại về hành vi, quyêt định của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyêt định tố tung của Cơ quan tiên hành tố tung, người tiên hành tố tung đã thưc hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra và tại phiên toa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng khác được thu thập trong quá trình điều tra và qua thẩm tra tại phiên toà.
Như vậy có cơ sơ xác định: Vào ngày 24/02//2025, Huỳnh Công Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68T1-292.19 vượt xe phía trước cùng chiều là xe mô tô biển kiểm soát 67T1-6296 do chị Nguyễn Thị Cầm H3 điều khiển chơ cháu Nguyễn Gia N2 và bà Dương Thị N1, bị cáo vượt xe không đảm bảo an toàn giao thông đường bộ, gây tai nạn giao thông làm cháu Nguyễn Gia N2 bị thương tích tổn hại sức khoẻ 75%. Hành vi bị cáo đã xâm phạm trật tư an toàn giao thông đường bộ, cu thể là vi phạm khoản 3, 5, 6 Điều 14 của Luật Trật tư, an toàn giao thông đường bộ năm 2024, gây hậu quả như trên. Bị cáo là người có đủ năng lưc chịu trách nhiệm hình sư, thưc hiện hành vi có lỗi vô ý.
Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo Huỳnh Công Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét thấy, hành vi bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được khi tham gia giao thông đường bộ thì người điều khiển phương tiện phải thật sư tập trung chú ý quan sát, tuân thủ các nguyên tắc, quy định về an toàn giao thông, để tránh xảy ra các lỗi vi phạm và đặc biệt là các tình huống dẫn đên hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, do thiêu sư tập trung, cẩu thả khi điều khiển xe nên bị cáo đã gây ra tai nạn giao thông nói trên. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm minh để răn đe, giáo duc bị cáo và phong ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong được đại diện bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dung các tình tiêt giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sư, để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Không cần thiêt áp dung hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sư; xử lý vật chứng: Như Kiểm sát viên nhận định và đề nghị trên đây là phù hợp, nên chấp nhận. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sư sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐINH:
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Công Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
1. Về trách nhiệm hình sư: Áp dung: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sư năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Công Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
+ Hình phạt bổ sung: Không áp dung.
2. Về trách nhiệm dân sư: Áp dung Điều 584, 585, 591 của Bộ luật Dân sư năm 2015;
Công nhận bị cáo Huỳnh Công Đ đã thoản thuận bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bị hại có đại diện là chị Nguyễn Thị Cẩm H1 nhận với tổng cộng số tiền là 131.500.000 đồng (một trăm ba mươi mốt triệu, năm trăm ngàn đông) xong, đại diện bị hại không yêu cầu gì thêm.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dung Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sư; Điều 106 của Bộ luật Tố tung hình sư.
- Công nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại 01 xe môtô biển kiểm soát 68T1-292.19 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe 68T1-292.19 cho Huỳnh Công Đ; trả lại 01 xe môtô biển kiểm soát 67T1-6296 cho bà Dương Thị N1 xong.
- Trả lại Huỳnh Công Đ 01 giấy phép lái xe hạng A1.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ bảo hiểm màu vàng (vàng đồng), trên mũ có ghi “Bưu điện K1”; 01 áo sơ mi tay dài, màu xanh; 01 quần sọt, màu đen.
4. Về án phí: Áp dung Điều 136 của Bộ luật Tố tung hình sư năm 2015; Nghị quyêt số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Bị cáo Huỳnh Công Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đông) án phí hình sư sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Áp dung Điều 331, 333 Bộ luật Tố tung hình sư năm 2015;
Bị cáo; đại diện bị hại; người có quyền lợi nghĩa vu liên quan có mặt tại phiên toa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sư vắng mặt tại phiên toa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yêt theo quy định pháp luật.