- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn n - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN K 6 – SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2026/HS-ST Ngày 05 - 02 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN K 6 - SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bàn Văn Hoàng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Lương Hữu
Ông Nguyễn Thành Vương
- Thư ký phiên toà: Ông Bàn Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân k 6 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân K 6 - Sơn La tham gia phiên toà:
Ông Đỗ Tràng Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân k 6 - Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2026/TLST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2026/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo.
Vì Văn N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/7/1976; Tại phường M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản C, phường M, tỉnh Sơn La: Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xinh mun; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái đoàn thể: Không; CCCD số 014076011985, cấp ngày 03/5/2022; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH - Bộ Công an; Trình độ học vấn: Lớp 1/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vì Văn T, con bà Lường Thị C; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án; Tiền án: Không; Nhân thân: Tại bản án số: 188/2007/HSST ngày 10/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt Vì Văn N 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 24 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội là 60 tháng tù (Đã được xóa án tích). Tại Quyết định số: 07/2015 ngày 19/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng (Đã được xóa tiền sự).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 27/11/2025 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La - Phân trại tạm giam Vân Hồ cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vì Văn N khai nhận như sau: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/11/2025, Vì Văn N đi bộ đến đồi P giáp ranh với bản Ông L, xã L, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy để bản thân sử dụng. Đến nơi Nguyên gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 60.000 đồng. Sau khi mua được ma túy N cất gói ma túy vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà. Khi về đến bản C, phường M thì bị tổ công tác Công an phường M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng, là nghi là ma túy.
Ngày 27/11/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La tiến hành Test thử ma túy đối với Vì Văn N cho kết quả: Dương tính. Qua xác minh Vì Văn N không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Ngày 27/11/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Vì Văn N được 0,12 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định, mẫu ký hiệu N.
Tại bản kết luận giám định số: 1429/KL - KTHS ngày 28/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu N gửi giám định là ma túy, loại Heroine; có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025) và Nghị định số 57/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,12 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,12 gam loại Heroine”.
Bản cáo trạng số 100/CT - VKS ngày 20/01/2026 của Viện kiểm sát nhân k 6
- Sơn La đã truy tố Vì Văn N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà: Bị cáo Vì Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân k 6. Kiểm sát viên – Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vì Văn N về tội danh, Điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vì Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Xử phạt bị cáo Vì Văn N từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; đề nghị tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng còn lại vụ Vì Văn Nguyên (Một mảnh nilon màu hồng)”.
3. Về án phí: Đề nghị căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Vì Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 và không có ý kiến gì tranh luận, đối đáp lại.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân k 6 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Vì Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều, bị cáo không có ý kiến gì thay đổi hay bổ sung gì và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “Khối lượng chất ma túy bị thu giữ là 0,12 gam loại Heroine”; Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 27/11/2025 bị cáo Vì Văn N, bị bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép 0,12 gam Heroine.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố tình phạm tội nghiêm trọng, tàng trữ 0,12 gam Heroine đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, nên cần có mức án phù hợp đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay. Do bị cáo Vì Văn N thực hiện hành vi phạm tội sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025; Do đó áp dụng Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025, để xét xử bị cáo Vì Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, quy định khung hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm tù là đúng với quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Tại bản án số: 188/2007/HSST ngày 10/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện M (Nay là Tòa án nhân dân K 6), tỉnh Sơn La xử phạt Vì Văn N 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và 24 tháng tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, theo Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1999; Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội là 60 tháng tù (Đã được xóa án tích). Tại Quyết định số: 07/2015 ngày 19/10/2015 của Tòa án nhân dân huyện M, (Nay là Tòa án nhân dân K 6), tỉnh Sơn La đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 tháng, đã chấp hành xong (Đã được xóa tiền sự). Lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, trở thành công dân tốt cho gia đình và có ích xã hội, nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo lại tiếp tục đi tìm mua ma túy để sử dụng, nên bị cáo vẫn là có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông không quen biết bán ma túy cho bị cáo Vì Văn N, do không xác định được lai lịch, địa chỉ. Nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La không có cơ sở điều tra xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo. Buộc bị cáo Vì Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy bị thu giữ là 0,12 gam Heroine.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Vì Văn N không thuộc diện nào quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Công an tỉnh Sơn La đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là có căn cứ.
Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân k 6 - Sơn La tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì thư dán kín lại, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Vì Văn N, Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 27/11/2025 (Một mảnh nilon màu hồng)”, là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Vì Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Thời hạn tạm giam đối với bị cáo Vì Văn N còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tuyên bố bị cáo Vì Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Vì Văn N 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng còn lại vụ Vì Văn N, Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 27/11/2025 (Một mảnh nilon màu hồng)”. Tại phần mép dán giáp lai có dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số 0000140.
Theo biên bản bàn giao vật chứng số: 103/BBVC - THA ngày 28/01/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Vì Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Vì Văn N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/02/2026).
| Nơi nhận: - TA ND Tỉnh; - VKSND k 6 (02); - Công an (02); - THA hình sự; - THA DS tỉnh Sơn La; - Trại Giam CA tỉnh Sơn La; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ (PV06) Công an tỉnh Sơn La; - Bi cáo; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Hoàng |