vanban.org

Bản án 103/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa giữa Trần Thị Kim C và Phạm Văn P. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Phương T (N1), sinh ngày 25 tháng 4 năm 2018 cho Trần Thị Kim C được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị C, anh P có yêu cầu khác. Phạm Văn P chưaphải cấp dưỡng nuôi con. Dành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa C và P"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:103/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 4 - 2026
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trương;

2. Ông Nguyễn Văn Bỉnh.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 14 - Cần Thơ.

Ngày 20 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 261/2025/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2026/QĐXXST-HN, ngày 13 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Trần Thị Kim C, sinh năm 1981.

Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

2. Bị đơn: Phạm Văn P, sinh năm 1974.

Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Trần Thị Kim C (Sau đây gọi chị C) trình bày:

Giữa chị và bị đơn Phạm Văn P (Sau đây gọi anh P) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 1998, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Từ đó vợ chồng hay cãi vã nhau, nhiều lần hòa giải hàn gắn tình cảm vẫn không đoàn tụ được, nên sống ly thân từ năm 2020. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh P.

- Về con chung: Có ba người con chung, trong có có hai người con đã tuổi trưởng thành, còn một người con tên Phạm Phương T (N), sinh ngày 25 tháng 4 năm 2018, hiện nay đang sống với chị C. Nay ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cháu T, chưa yêu cầu chồng chị cấp dưỡng nuôi con.

Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 18 tháng 3 năm 2026, cháu Phạm Phương T trình bày có sự chứng kiến của chị C: Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Quá trình tố tụng bị đơn Phạm Văn P vắng mặt nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp Ly hôn và nuôi con được qui định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Cần Thơ.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Phạm Văn P được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự.

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh P qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 1998, đến ngày 21 tháng 10 năm 2002 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang cũ. Nay là xã T, thành phố Cần Thơ nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C: Chị và anh P trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà đã chọn cách sống ly thân; xét thời gian ly thân thì tự ai người đó sống, không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện để hòa giải đoàn tụ nhưng anh P vắng mặt và cũng không có ý kiến gì về đời sống hôn nhân với chị C, đều đó chứng minh anh P cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân hiện tại. Trong khi đó, tại phiên tòa, chị C xác định là không còn tình cảm vợ chồng với anh P và cương quyết xin ly hôn. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C.

Về con chung: Có một người con chung chưa đủ tuổi trưởng thành là cháu T, anh chị không tranh chấp về quyền nuôi con. Xét cháu cháu T có nguyện vọng được sống với chị C, chị C yêu cầu được nuôi cháu. Nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của cháu T, cần tiếp tục giao cháu cho chị C được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị chị C, anh P có yêu cầu khác.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị C chưa yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh P mà không ai có quyền cản trở.

Về nợ và tài sản chung: Chị C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban T1 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa giữa Trần Thị Kim C và Phạm Văn P.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Phương T (N1), sinh ngày 25 tháng 4 năm 2018 cho Trần Thị Kim C được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị C, anh P có yêu cầu khác. Phạm Văn P chưaphải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Phạm Văn P mà không ai có quyền cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Trần Thị Kim C phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012420, ngày 16 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố C thành án phí, không phải nộp thêm.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ