- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày 26 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoát và bà Nguyễn Thị Chương.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Xuân Lập – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Vũ Bá Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Văn Q, sinh năm 1985 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q1 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Phạm Thị T1, sinh năm 1994; con: Có 01 con (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/5/2015, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong bản án ngày 14/12/2020); bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/3/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 19/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phủ Lý; có mặt.
* Người làm chứng: Anh Trịnh Quang T, sinh năm 1976; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13/3/2024, Phạm Văn Q đi bộ từ chỗ ở đến khu vực ngã tư thuộc xã T, huyện T thì gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch). Q hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì người đàn ông đồng ý và bảo Q ngồi lên xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) để chở đi mua ma túy. Khi đến phố T thuộc tổ 10, phường H, thành phố P thì người đàn ông bảo Q xuống xe đợi và đưa tiền để mua ma túy. Q lấy 200.000 đồng đưa cho người đàn ông, người này cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi đâu khoảng 10 phút thì quay lại đưa cho Q 01 vỏ bao thuốc lá T màu vàng và nói “Hàng của mày bên trong bao thuốc lá”. Biết bên trong vỏ bao thuốc lá có ma túy nên Q không mở ra kiểm tra mà cầm ở trong lòng bàn tay trái rồi ngồi lên xe nhờ người đàn ông chở đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi vừa đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an phường H, thành phố P làm nhiệm vụ tuần tra thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Q vừa xuống xe thì người đàn ông lợi dụng sơ hở tăng ga bỏ chạy thoát, Q bị giữ lại và tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 vỏ bao thuốc lá T màu vàng, kiểm tra bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chát bột màu trắng dạng cục, Q khai nhận đó là ma túy vừa mua cất giữ mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 vỏ bao thuốc lá T màu vàng.
Ngày 14/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Phạm Văn Q nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý ra Quyết định trưng cầu giám định số 455, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam giám định chất bột màu trắng dạng cục bên trong 01 gói giấy bạc màu vàng niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Tại bản Kết luận giám định số 213/KL-KTHS, ngày 18/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,210g, loại Heroine”.
Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKS-PL ngày 23/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ; Bị cáo không có tài sản thu nhập gì, mục đích phạm tội không trục lợi mà chỉ để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Toàn bộ số Heroine được hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá T màu vàng là vật chứng của vụ án bị Nhà nước cấm tàng trữ và không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.
+ Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn Q đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ để kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 13/3/2024, tại khu vực tổ 10, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Phạm Văn Q đang cất giữ trái phép 0,210 gam ma túy, loại Heroine ở trong lòng bàn tay trái, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường H, thành phố P phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án có thẩm quyền xử phạt hình phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5] Về hình phạt.
- Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.
- Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì, không có công việc và thu nhập ổn định, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề khác của vụ án:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý đã phối hợp với Công an xã T, huyện T và Công an phường H, thành phố P xác minh nhưng không xác định được. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[7] Về xử lý vật chứng đã thu giữ: Đối với số ma túy được hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá T màu vàng là vật chứng của vụ án, Nhà nước cấm tàng trữ và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.
3. Xử lý vật chứng đã thu giữ: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ bao thuốc lá T màu vàng và 01 (một) phong bì được niêm phong số 213/KTHS. Mặt trước của phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01”. Tại mép dán mặt sau của phong bì có: 02 (hai) chữ ký; 01 (một) chữ ký đóng dấu chức danh Giám định viên Nguyễn Thị Lan H; (một) chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Thị Bích Hồng H1 và 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 24/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn Q phải nộp: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - CQCSĐT CA thành phố Phủ Lý; - CQTHAHS có thẩm quyền; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Hoa |