- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Quang T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2024/HS-ST Ngày: 07-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Họ và tên: Lê Quang T, sinh năm : 1989 tại Long An; Nơi đăng ký HKTT: 44/15, KP BD, phường LBT, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở hiện tại: tổ 21, khu phố 1, phường AH, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; trình độ văn hóa lớp: 3/12; Con ông Lê Quang Th và bà Lương Thị H; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố BH. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quang T là người sử dụng trái phép ma túy tổng hợp (dạng đá). Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 14/11/2023, T điều khiển xe mô tô hiệu Wave @ BKS 60F1-830.29 đi đến khu vực chân cầu vượt ngã tư VT, thuộc khu phố 1, phường LBT, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai gặp một thanh niên khoảng 35 tuổi (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá giá 500.000 đồng, mua được ma túy T đem về lấy ra một phần sử dụng cho bản thân, phần còn lại T tiếp tục cất giấu. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày T đang ở nhà thì Phan Văn S, sinh năm 1991. HKTT: khu phố 3, phường AH, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai gọi điện thoại cho T theo số điện thoại 0348887335 hỏi mua ma túy, T đồng ý bán cho S gói ma túy đá còn lại với giá 700.000 đồng và hẹn giao ma túy tại khu vực tổ 1, khu phố 2, phường LBT, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
Vào lúc 22 giờ 30 phút, cùng ngày T điều khiển xe mô tô biển số 60F1-830.29 đến điểm hẹn đứng chờ bán ma túy cho S nhưng chưa giao tiền và ma túy cho nhau thì bị Công an phường LBT kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Quá trình điều tra vụ án, Lê Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Các vật chứng thu giữ và xử lý gồm:
- 01 gói nilon được hàn kín, kích thước 02cm x 03 cm, bên trong chưa chất màu trắng, T khai là ma túy đá. (BL 23);
- 01 xe môtô nhãn hiệu Wave @, màu xanh, biển số 60F1-830.29 của Lê Quang Th, Cơ quan điều tra Công an thành phố BH đã giao trả lại cho Lê Quang Th (Bút lục số 72-80);
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, Imell: 358989096751872, gắn sim điện thoại số thuê bao 0348887335, là điện thoại của T đã dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
Tại Kết luận giám định số 2550/KL-KTHS ngày 21/11/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu chất màu trắng bên trong 01 gói nylon là ma túy, có khối lượng là 0,7943gam, loại Methamphetamine. (BL 27)
Tại bản Cáo trạng số 99/CT-VKSBH ngày 29/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lê Quang T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
- Áp dụng khoản 1 Điều 251 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Quang T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
- Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Các vấn đề khác:
Đối với Phan Văn S đã liên hệ mua của T 01 gói ma túy đá nhưng việc giao dịch mua bán chưa thành nên không có căn cứ xử lý Phan Văn S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua test nhanh, S dương tính với ma túy nên UBND phường AH ra quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.
Đối với người thanh niên khoảng 35 tuổi, là đối tượng bán ma túy cho Lê Quang T, qua điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác minh xử lý sau.
- Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận tội danh đúng theo cáo trạng đã truy tố, bị cáo ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Theo như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Lê Quang T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 22 giờ 30 phút, tại khu vực tổ 1, khu phố 2, phường LBT, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai, Lê Quang T có hành vi cất giấu ma túy có khối lượng là 0,7943gam, loại Methamphetamine để bán cho Phan Văn S nhưng chưa giao tiền và ma túy cho nhau thì bị Công an phường LBT kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo là người ý thức được rõ ràng tác hại nghiêm trọng của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần áp dụng mức án nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 99/CT-VKSBH ngày 29/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố BH, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Quang T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Lê Quang T để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
Về các vấn đề khác liên quan đến nội dung vụ án:
- Đối với Phan Văn S đã liên hệ mua của T 01 gói ma túy đá nhưng việc giao dịch mua bán chưa thành nên không có căn cứ xử lý Phan Văn S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua test nhanh, S dương tính với ma túy nên UBND phường AH ra quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là phù hợp với quy định;
- Đối với người thanh niên khoảng 35 tuổi, là đối tượng bán ma túy cho Lê Quang T, qua điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hoà tiếp tục xác minh làm rõ, khi đủ cơ sở sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định.
Về vật chứng:
- Vật chứng được kết luận là ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng ma túy là 0,7943 gam, loại Methamphetamine Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố BH thu giữ sau giám định.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, Imell: 358989096751872, gắn sim điện thoại số thuê bao 0348887335 do T sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 xe môtô nhãn hiệu Wave @, màu xanh, biển số 60F1-830.29 của Lê Quang Th (cha bị cáo T), ông Th không biết T sử dụng xe để đi mua bán ma túy, Cơ quan điều tra Công an thành phố BH đã giao trả lại cho ông Lê Quang Th là phù hợp với quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo Lê Quang T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và đề xuất mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với phần trình bày của bị cáo:
Đối với trình bày của bị cáo trong phần nói lời sau cùng được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Quang T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 11 năm 2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số lượng ma túy là 0,7943gam, loại Methamphetamine Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố BH thu giữ sau giám định.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, Imell: 358989096751872, gắn sim điện thoại số thuê bao 0348887335.
Các vật chứng này hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BH, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lê Quang T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố BH; - Chi cục THADS thành phố BH; - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.BH - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ Công an TP.BH; - Lưu hồ sơ, văn phòng. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN - | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |