- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Tr và Lê Thị Mỹ L"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/12/2024 V/v tranh chấp: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung
Các hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Hồ Thị Công Dung.
2/ Ông Bùi Thanh Trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
Ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024. Về tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 409/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 12 năm 2024. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: ấp T H A, thị trấn T L, huyện Thới Lai, TP.Cần Thơ. Số điện thoại: xxxx xxx xxx. Có đơn đề ngày 19/11/2024 xin giải quyết vắng mặt (BL 44).
- Bị đơn: Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1999.
Địa chỉ: K24, đường số 45, KV T T, Phường P T, Quận Cái Răng, TP.Cần Thơ (BL 16). Số điện thoại: xxxx xxx xxx. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 22/5/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T trình bày:
1/ Về hôn nhân: ông và bà Lê Thị Mỹ L tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2022. Có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ theo giấy chứng nhận kết hôn số 13 ngày 22/02/2022. Chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc. Cả hai đã ly thân nhiều năm. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Mỹ L.
2/ Về con chung: ông Nguyễn Văn T khai vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
3/ Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, bị đơn bà Lê Thị Mỹ L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không rõ lý do. Vì thế Tòa án không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nên vụ án được đưa ra xét xử công khai vắng mặt các bên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Mỹ L xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Nên được xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Nhận thấy cuộc sống chung của hai vợ chồng chỉ mới bắt đầu với thời gian ngắn, lẽ ra cả hai phải càng hiểu ý nghĩa hôn nhân và quan tâm đến nhau nhiều hơn. Nhưng bà L lại không quan tâm đến hôn nhân, không thiện chí hàn gắn khi có rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Thậm chí khi ông T có đơn xin ly hôn tại tòa án bà vẫn không quan tâm, không liên hệ với Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Qua xác nhận của Công an phường Phú Thứ ngày 12/9/2014 (BL 16) thì bà L có HKTT và hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương nhưng cố tình vắng mặt không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ kiện. Chứng tỏ bà không có thiện chí muốn duy trì cuộc hôn nhân này với ông T nữa.
Mặc dù đã được động viên hàn gắn đoàn tụ nhưng ông T cho rằng giữa vợ chồng không hòa hợp về tính cách nên thường gây gỗ, bà L không quan tâm đến gia đình, không có thiện chí hàn gắn. Bản thân ông cũng không còn tình cảm gì với bà L, không còn tha thiết muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử nhận thấy đời sống chung thực tế của hai vợ chồng ông T và bà L đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được. Và hôn nhân thì phải xuất phát từ sự tự nguyện của cả hai người. Nên việc ông Nguyễn Văn T xin được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: nguyên đơn xác định vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh.
Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn xác định không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ được tách ra giải quyết thành vụ kiện khác theo qui định của pháp luật.
Về án phí: nguyên đơn Nguyễn Văn T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo qui định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Điều 28, 35, 147, 228, 235, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Cho ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Lê Thị Mỹ L.
2/- Về con chung: xác định không có nên không điều chỉnh. Nếu sau này phát sinh và các bên có yêu cầu thì được tách ra thành vụ kiện khác để giải quyết theo qui định của pháp luật.
3/- Về tài sản chung: Không có nên không điều chỉnh. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
4/- Về nợ chung: Không có nên không điều chỉnh. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
5/- Về án phí: ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003743 ngày 09/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Q. Cái Răng. Ông T đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi cư trú thì các đương sự được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận - TAND. TP/ Cần Thơ. - VKSND.Q.Cái Răng. - Cơ quan Thi hành án. - Người TGTT. - Lưu HS – BA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | Thái Mỹ Nhung THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Mỹ Nhung |