vanban.org

Bản án 103/2023/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Tuyên bố bị cáo Kiều Công T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Kiều Công T: 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Công Thuyên, mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố bị cáo Kiều Công T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103 /2023/HS-ST
Ngày: 21/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Khắc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Chu Mạnh Tường

2/ Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 91/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Kiều Công T, sinh năm: 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Căn cước công dân số: 079094001941; Trường trú: A Nguyễn Duy Trinh, khu phố B, phường C, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: A, tổ 16, ấp 5, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Kiều Công T và bà: Đặng Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 10/11/2011 bị Công an phường Phú Hữu, Quận 9 xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; Ngày 12/01/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 9 xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị bắt tạm giam, tạm giữ từ ngày 31/10/2022 (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Phạm Văn T, sinh năm 1996

Thường trú: A Đường B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đào Trần Tấn P, sinh năm 1997

Thường trú: A Đường B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bùi Đình V, sinh năm 1990

Thường trú: A ấp 2, xã B, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai;

Nơi ở: A Đường B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Phạm Ngọc A, sinh năm 1992

Nơi ở: A Nguyễn Thị Định, phường B, thành phố C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Phạm Nguyễn Thảo T, sinh năm 1994

Địa chỉ: Nhà không số, hẻm 132, khu phố A, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Anh Nguyễn Đình C

Địa chỉ: số A, Đội Cấn, phường B, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 31/10/2022, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy – Công an thành phố Thủ Đức tuần tra đến trước nhà số 735, Nguyễn Duy Trinh, khu phố 2, phường Phú Hữu, thành phố Thủ Đức phát hiện Kiều Công T đang điều khiển xe môtô biển số: 30L1 – 8292 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo phía trước bên trái mà T đang mặc có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 06 gói nylon chứa tinh thể không màu. T khai là ma túy nên đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Bản kết luận giám định số 6272/KLGĐ-H ngày 08/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu là ma túy thể rắn, loại Methamphetamine có khối lượng 1,2189g.

Tại Cơ quan Công an, Kiều Công T khai: Thiên nghiện ma túy từ năm 2020 và bắt đầu bán ma túy cho người nghiện từ đầu năm 2022. Ma túy có để bán cho người nghiện T mua của một người phụ nữ tên “Tâm” (không rõ lai lịch) qua điện thoại số 0933151448 với giá từ 2.000.000 đồng – 2.500.000 đồng/01 gói ma túy, sau đó T đem về phân ra thành nhiều gói nhỏ để bán cho người nghiện với giá từ 200.000 đồng – 300.000 đồng /01 gói ma túy qua số điện thoại của T là 0907425117 hoặc qua tài khoản mạng xã hội tên “Công Thiên” rồi hẹn nơi giao dịch mua bán ma túy với người nghiện. T đã mua ma túy của Tâm 03 lần tại nhà của Tâm ở đường Tam Đa, phường Long Trường, thành phố Thủ Đức. Số ma túy bị thu giữ là do T mua của Tâm vào khoảng 01 giờ ngày 27/10/2022 tại nhà của Tâm với giá 2.500.000 đồng để bán cho người nghiện. Ngày 31/10/2022, T điều khiển xe mô tô biển số 30L1-8292 đang trên đường đến điểm hẹn tại khu vực nhà thờ Phú Hữu, phường Phú Hữu, thành phố Thủ Đức để bán ma túy cho đối tượng nghiện thì bị Công an kiểm tra bắt giữ.

Qua truy xét, đã xác định những người nghiện mua ma túy của T như sau:

1/ Phạm Văn Thành, sinh năm 1996 khai: Thành quen biết T qua bạn bè xã hội giới thiệu và mua ma túy của T được 01 lần vào tháng 8/2022 tại nhà thờ Phú Hữu, phường Phú Hữu, với giá 200.000đ/01 gói ma túy. Ngày 31/10/2022, Thành liên hệ mua ma túy của T chưa mua được thì bị đưa về làm việc.

2/ Đào Trần Tấn Phát, sinh năm 1997 khai: Phát mua ma túy của T được 02 lần với giá từ 300.000đồng/01 gói ma túy. Lần mua ma túy gần nhất vào ngày 29/10/2022.

3/ Bùi Đình Vũ, sinh năm 1990 khai: Vũ mua ma túy của T được 01 lần vào ngày 14/10/2022 với giá 200.000đồng/01 gói ma túy. Ngày 31/10/2022 Vũ liên hệ mua ma túy của T thì bị đưa về làm việc.

4/ Phạm Ngọc An, sinh năm 1992 khai: An đã mua ma túy của T được 02 lần, lần 01 vào ngày 29/10/2022 với giá 200.000đồng/01 gói ma túy. Lần 2 vào sáng ngày 31/10/2022 mua với giá 200.000đồng/01 gói ma túy của T thì bị đưa về làm việc. Tiến hành cho T đối chất với Phạm Văn Thành, Đào Trần Tấn Phát, Phạm Ngọc An, Bùi Đình Vũ xác nhận việc T bán ma túy cho các đối tượng trên là đúng.

Đối với người tên “Tâm” bán ma túy cho T. Qua xác minh có tên Phạm Nguyễn Thảo Tâm, sinh năm 1994, ngụ: Nhà không số, hẻm 132, khu phố Tam Đa, phường Long Trường, thành phố Thủ Đức. Tâm thừa nhận đã bán ma túy cho T được 03 lần, mỗi lần với giá 2.500.000 đồng. Hiện nay, Tâm đang bị bắt trong vụ án khác.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong ghi vụ số 6272 có chữ ký của GĐV Bùi Công Danh, bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định;

- 01 ĐTDĐ hiệu ViVo màu xanh có gắn sim 0907425117 và 0903724548 thu giữ của T:

- 01 ĐTDĐ hiệu Redmi màu đen thu giữ của Đào Trần Tấn Phát:

- 01 ĐTDĐ hiệu Oppo màu hồng thu giữ của Bùi Đình Vũ:

- 01 ĐTDĐ hiệu Samsung màu đen thu giữ của Phạm Ngọc An.

- 01 xe môtô hiệu Honda Wave, màu đen, biển số: 30L1-8292, biển số 30L1-8292, số máy: HC 12E1409359, số khung: RLHHC12159Y208783. Qua xác minh do anh Nguyễn Đình Chức, ngụ: số 303, Đội Cấn, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh tại địa chỉ số 303, Đội Cấn, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội không có ai tên Nguyễn Đình Chức. Giám định số khung, số máy là không thay đổi. T khai xe trên mua với giá 4.000.000 đồng vào năm 2019 của người không rõ lai lịch, không làm giấy mua bán.

Cáo trạng số 106/CT-VKSTĐ ngày 28/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Kiều Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố; bị cáo thành khẩn khai báo, bày tỏ thái độ ăn năn hối cải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Kiều Công T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” đồng thời đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Kiều Công T từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù và xử lý vật chứng, án phí theo quy định.

Bị cáo không tranh luận về hành vi phạm tội, lời sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 31/10/2022, tại trước nhà số 735 Nguyễn Duy Trinh, khu phố 2, phường Phú Hữu, thành phố Thủ Đức, Kiều Công T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy ở thể rắn có khối lượng 1,2189 gram, loại Methamphetamine để bán thì bị bắt quả tang. Trước đó, T đã bán ma túy cho Phạm Văn Thành được 01 lần, Đào Trần Tấn Phát được 02 lần; Bùi Đình Vũ được 01 lần, Phạm Ngọc An được 01 lần.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm bởi ma túy có thể gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm tăng tệ nạn nghiện ma túy và nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm khác. Nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng vẫn bất chấp hậu quả xảy ra, cố ý phạm tội thể hiện sự liều lĩnh và xem thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa. Đồng thời cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

Đối với Phạm Nguyễn Thảo Tâm có hành vi bán ma túy cho T. Ngày 27/10/2022, Công an thành phố Thủ Đức bắt Tâm cùng đồng bọn về tội Tàng trữ, mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có Cáo trạng truy tố Tâm cùng đồng phạm chuyển tòa xét xử về tội Tàng trữ, mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 249, 251, 255 Bộ luật hình sự.

Đối với Phạm Văn Thành, Đào Trần Tấn Phát; Bùi Đình Vũ, Phạm Ngọc An là người nghiện ma túy. Công an thành phố Thủ Đức ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, đã được đưa đi cai nghiện bắt buộc và biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tiếp tục sử dụng và bán cho người nghiện thể hiện ý thức coi thường pháp luật.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

+ Đối với điện thoại di động liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;

+ Đối với một xe mô tô. Giao cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho đăng tải thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Hết thời hạn nêu trên, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

+ Đối với số vật chứng là ma túy còn lại sau giám định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1- Tuyên bố bị cáo Kiều Công T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Kiều Công T: 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2022.

- Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

3- Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, 01 (một) điện thoại di động hiệu oppo màu hồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S8, 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi màu đen;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi số vụ 6272 có chữ ký của Giám định viên Bùi Công Danh, bên trong là ma tuý còn lại sau giám định.

- Giao cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho đăng tải thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 30L1-8292, số máy: HC 12E1409359, số khung: RLHHC12159Y208783. Hết thời hạn nêu trên, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

(Theo phiếu nhập kho số NK23/121C ngày 16/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

4- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5- Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ