- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tố H - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Tố H phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Xử phạt bị cáo Phạm Tố H 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", được trừ 09 (chín) ngày đã bị tạm giữ; thời gian cải tạo không giam giữ còn lại…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2023/HS-ST Ngày 22-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Vĩnh.
2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quang Tất - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Tố H, sinh năm 1994 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn G, xã Th, huyện K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Vũ Thị L; có vợ là Kiều Thị T và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/9/2023 đến ngày 04/10/2023 được cho tại ngoại; có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Lê Khắc Th, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
2. Anh Đỗ Tiến A, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Tố H mở quán bán hàng ăn tại thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam, không có giấy phép kinh doanh dịch vụ cấp, cho vay tín dụng hoặc hỗ trợ tài chính nhưng biết một số người có nhu cầu vay tiền để sử dụng mà không muốn làm thủ tục vay ngân hàng hay các tổ chức tín dụng nên H nảy sinh ý định cho những người này vay tiền với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến ngày 25/9/2023 H đã cho anh Lê Khắc Th và anh Đỗ Tiến A vay tiền đều với mức lãi suất 6.700 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương mức lãi suất 244,6%/năm (cao hơn 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự). H và các anh Th, Tiến A thỏa thuận bằng lời nói và không phải thế chấp, cầm cố tài sản khi vay, hàng tháng nếu không trả tiền vay gốc thì đến ngày dương lịch trùng với ngày vay, người vay phải trả trước lãi của tháng sau, một tháng tính tròn 30 ngày, không kể tháng đủ hay tháng thiếu, cụ thể:
1. Ngày 25/12/2022, Phạm Tố H cho anh Lê Khắc Th vay số tiền 20.000.000 đồng, thỏa thuận cắt lãi trước 01 tháng (tháng 01/2023) là 4.000.000 đồng, đến ngày 25 dương lịch hàng tháng, nếu anh Th chưa trả nợ gốc thì phải trả cho H 4.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 25/9/2023 H đã thu của anh Th tổng cộng 40.000.000 đồng tiền lãi của 10 tháng (các tháng 01, 02, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 năm 2023), anh Th chưa trả tiền gốc cho H.
Như vậy, khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất theo quy định của pháp luật mà Phạm Tố H được phép thu của anh Lê Khắc Th trong thời gian từ ngày 25/12/2022 đến ngày 25/9/2023 là (20.000.000 đồng x 20%/năm x 300 ngày) : 365 ngày = 3.287.671 đồng. Số tiền H thu lợi bất chính từ việc cho anh Th vay tiền là 40.000.000 đồng – 3.287.671 đồng = 36.712.329 đồng.
2. Ngày 05/02/2023, Phạm Tố H cho anh Đỗ Tiến A vay số tiền 10.000.000 đồng, thỏa thuận cắt lãi trước 01 tháng (tháng 03/2023) là 2.000.000 đồng, đến ngày 05 dương lịch hàng tháng, nếu anh Tiến A chưa trả nợ gốc thì phải trả cho H 2.000.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 05/8/2023 anh Tiến A đã trả cho H 10.000.000 đồng tiền nợ gốc và tổng cộng 12.000.000 đồng tiền lãi (các tháng 3, 4, 5, 6, 7, 8 năm 2023).
Như vậy, khoản tiền lãi tương ứng mức lãi suất theo quy định của pháp luật mà Phạm Tố H được phép thu của anh Đỗ Tiến A trong thời gian từ ngày 05/02/2023 đến ngày 05/8/2023 là (10.000.000 đồng x 20%/năm x 180 ngày) : 365 ngày = 986.301 đồng. Số tiền H thu lợi bất chính từ việc cho anh Tiến A vay tiền là 12.000.000 đồng – 986.301 đồng = 11.013.699 đồng.
Như vậy, tổng số tiền Phạm Tố H đã thu lợi bất chính của anh Lê Khắc Th và anh Đỗ Tiến A là 36.712.329 đồng + 11.013.699 đồng = 47.726.028 đồng.
Khoảng 15 giờ ngày 25/9/2013, tại đoạn đường làng thôn Nhật Tựu, xã Nhật Tựu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, anh Lê Khắc Th đang trả cho Phạm Tố H 4.000.000 đồng thì bị tổ công tác Công an huyện Kim Bảng phối hợp với Công an xã Nhật Tựu tuần tra phát hiện, cả hai đều khai nhận H đang thu tiền lãi tháng 10/2023 đối với khoản vay 20.000.000 đồng của anh Th.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 4.000.000 đồng do Phạm Tố H tự nguyện giao nộp.
Tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKSKB ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Phạm Tố H về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 ngày đã bị tạm giữ; miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 4.000.000 đồng; buộc bị cáo H phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.273.972 đồng; buộc anh Lê Khắc Th phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền 20.000.000 đồng. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H phải trả lại cho anh Th số tiền 36.712.329 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tố H khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Phạm Tố H tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản thu giữ vật chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.
Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/12/2022 đến ngày 25/9/2023, tại thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam, bị cáo Phạm Tố H đã cho anh Lê Khắc Th và anh Đỗ Tiến A vay tổng số tiền 30.000.000 đồng với mức lãi suất 6.700 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (tương ứng là 244,6%/năm, cao gấp 12 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự); số tiền gốc H đã thu về là 10.000.000 đồng; số tiền lãi H được phép hưởng theo quy định là 4.273.972; tổng số tiền H đã thu lợi bất chính là 47.726.028 đồng.
Tính chất, mức độ tội phạm bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm đến lợi ích của công dân, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên toà đều khai báo thành khẩn nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ những phân tích nêu trên, xét thấy cần xử phạt nghiêm minh bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm. Bên cạnh đó cũng cần đối trừ với 09 ngày bị cáo đã bị tạm giữ, cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản riêng, do đó cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Khắc Th và anh Đỗ Tiến A là những người vay tiền của bị cáo H đều sử dụng vào mục đích hợp pháp, nay anh Th yêu cầu H trả lại số tiền 36.712.329 đồng là tiền bị H thu lợi bất chính. Tại phiên tòa bị cáo H nhất trí trả lại toàn bộ số tiền nêu trên, vì vậy cần buộc bị cáo phải trả lại toàn bộ số tiền theo yêu cầu nêu trên của anh Th là 36.712.329 đồng. Đối với anh Đỗ Tiến A đã được bị cáo H trả lại số tiền bị thu lợi bất chính là 11.013.699 đồng, anh A không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền 4.000.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo H là tiền lãi H đã thu của anh Lê Khắc Th, đây là tiền bị cáo có được do phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền gốc 10.000.000 đồng H đã thu từ anh Đỗ Tiến A và số tiền lãi suất cao nhất theo quy định H được hưởng là 4.273.972 đồng, tổng cộng là 14.273.972 đồng là tiền sử dụng vào mục đích phạm tội và tiền thu từ việc phạm tội, trong đó trừ đi 4.000.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo như đã nêu ở trên, còn lại cần buộc bị cáo phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền là 14.273.972 - 4.000.000 đồng = 10.273.972 đồng.
Đối với số tiền 20.000.000 đồng là số tiền gốc bị cáo H chưa thu được của anh Lê Khắc Th nhưng đến nay anh Th chưa giao nộp là tiền sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần buộc anh Th phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
1. Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Tố H phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Xử phạt bị cáo Phạm Tố H 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự", được trừ 09 (chín) ngày đã bị tạm giữ; thời gian cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo phải chấp hành là 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày, tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập để nộp ngân sách Nhà nước đối với bị cáo.
Giao bị cáo Phạm Tố H cho Uỷ ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Tố H phải trả lại cho anh Lê Khắc Th số tiền 36.712.329đ (ba mươi sáu triệu bảy trăm mười hai nghìn ba trăm hai mốt đồng).
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.
- Buộc bị cáo Phạm Tố H phải nộp số tiền 10.273.972đ (mười triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn chín trăm bảy hai đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc anh Lê Khắc Th phải nộp số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Tố H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Kim Bảng; - Công an huyện Kim Bảng; - Chi cục THADS huyện Kim Bảng; - UBND xã T; - Bị cáo; - Người có QL,NVLQ; - Lưu HS, VP. 182.900.000 đồng là số tiền lãi Hùng đã thu của chị Hạnh, anh Mạnh, chị Hoa, chị Khanh, chị Nga, chị Dung, anh Hào. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Nga số tiền 36.246.577 đồng, trả cho chị Lê Thị Hồng Hoa số tiền 735.616 đồng là tiền Hùng đã thu lời bất chính của chị Nga và chị Hoa, sau khi nhận lại tiền chị Nga không có yêu cầu đề nghị gì thêm; riêng chị Hoa đề nghị trả lại số tiền 5.000.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ, đối với số tiền Hùng thu lời bất chính còn lại của chị thì chị không có yêu cầu nhận lại, chị tự nguyện nộp số tiền đó vào ngân sách Nhà nước. Đối với chị Hạnh, anh Mạnh, chị Khanh, chị Dung, anh Hào đều yêu cầu Hùng trả lại số tiền Hùng đã thu lời bất chính, cụ thể: Chị Đỗ Thị Hạnh yêu cầu số tiền 20.712.329 đồng, anh Trần Hùng Mạnh yêu cầu 10.356.166 đồng, chị Trương Thị Khanh yêu cầu 27.959.687 đồng, chị Đặng Thị Kim Dung yêu cầu 17.260.276 đồng, anh Bùi Văn Hào yêu cầu 22.074.887 đồng. Tại giai đoạn điều tra, bị cáo Hùng đã tự nguyện giao nộp số tiền 145.917.807 đồng là tiền thu lời bất chính để trả lại cho những người có yêu cầu nêu trên cũng như để nộp vào ngân sách Nhà nước, vì vậy cần trả lại số tiền theo yêu cầu như trên của chị Hạnh, anh Mạnh, chị Khanh, chị Dung, anh Hào nhưng sẽ giữ lại để đối trừ với số tiền gốc mà những người này phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước. chị Lê Thị Hồng Hoa trả cho bị cáo Hùng 80.000.000 đồng tiền gốc và 5.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay ngày 27/6/2022 và số tiền 182.900.000 đồng do bị cáo Hùng tự nguyện giao nộp, tổng cộng là 267.900.000 đồng, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Nga 36.246.577 đồng và trả lại cho chị Lê Thị Hồng Hoa 735.616 đồng là đúng quy định pháp luật; ngoài ra chị Hoa tự nguyện đề nghị nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền còn lại bị Hùng thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện này của chị Hoa. Cụ thể số tiền 230.918.000 đồng, trong đó có 80.000.000 đồng là tiền Hùng sử dụng vào mục đích phạm tội và 47.554.655 đồng là tiền Hùng thu lời bất chính và tiền chị Hoa không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; đối với số tiền 5.000.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ của chị Hoa là tiền chính đáng không liên quan đến tội phạm và chị Hoa có yêu cầu trả lại nên sẽ trả lại cho chị Hoa; còn lại số tiền 98.363.345 đồng bị cáo Hùng thu lời bất chính được trả lại cho các cá nhân gồm: Chị Đỗ Thị Hạnh 20.712.329 đồng, anh Trần Hùng Mạnh 10.356.166 đồng, chị Trương Thị Khanh 27.959.687 đồng, chị Đặng Thị Kim Dung 17.260.276 đồng, anh Bùi Văn Hào 22.074.887 đồng, nhưng sẽ sung vào ngân sách Nhà nước và sẽ đối trừ vào số tiền gốc vay là tiền sử dụng vào mục đích phạm tội những người này phải nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đức Thạo [6.1] Quá trình điều tra, Nguyễn Huy Hùng đã tự nguyện giao nộp số tiền [6.2] Đối với số tiền 85.000.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ là tiền do |