vanban.org

Bản án 103/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phan Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,59 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định,01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu vàng xanh, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ xanh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan văn H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phan Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 103/2023/HS-ST
Ngày 24- 5– 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Hồng Minh và ông Trịnh Duy Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tHnh phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Điện Biên Phủ tham gia phiên toà: Ông H Trung Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2023/HSST, ngày 19 tháng 4 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo.

Họ và tên: Phan Văn H (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1977; Nơi sinh: Tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố 03, phường M T, thành phố B, tỉnh Đ; Hiện trú tại: Tổ dân phố 10, phường N B, thành phố B, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn B, đã chết và bà Đoàn Thị V; Vợ: Trần Thị K L; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ từ ngày 24/02/2023 đến ngày 04/3/2023 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 05/3/2023 cho đến ngày xét xử (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 24/02/2023, H từ nhà điều khiển xe ô tô BKS 27A-072.69 đến khu vực Trường trung học Cơ sở Him Lam, thuộc tổ 4, Khe Chít, phường Noong Bua, tHnh phố Điện Biên Phủ tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây H đã gặp người đàn ông tên Sơn đang đứng trên vỉ hè và hỏi mua ma túy 7 viên ma túy được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ xanh, đựng trong vỏ bao thuốc lá 555 màu vàng, xanh với giá 300.000 đồng của một người đàn ông tên Sơn (không biết rõ lai lịch), sau khi mua được ma túy H đi về. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày khi H điều khiển xe đến khu vực tổ 2, phường Tân Thanh, tHnh phố Điện Biên Phủ và đang cầm gói ma túy trong long bàn tay thì bị Tổ công tác cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an tHnh phố Điện Biên Phủ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm:0,65gam Methamphetamine, 01vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu vàng xanh, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ xanh, 01 chiếc xe ô tô BKS 27A – 072.69, chiếc xe thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Ngọc Oanh.

Tại bản kết luận giám định số: 401/KL-KTHS ngày 03/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Khối lượng vật chứng: 0,65gam. Methamphetaminenằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/NĐ-CP ngày 15/5/2018, sau khi giám định hoàn lại 0,59 gam Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 49/CT-VKSTPĐBP ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Phan Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm t, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân Tối cao: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Giao bị cáo Phan Văn H cho Ủy ban nhân dân UBND phường Noong Bua, tHnh phố Điện Biên Phủ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Noong Bua, tHnh phố Điện Biên Phủ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy0,59 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu vàng xanh, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ xanh.

Chấp nhận biên bản trao trả tài sản cho chủ sở hữu ngày 12/3/2023

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh gia đình bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáovà xin HĐXX cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về Hnh vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận Hnh vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người quả tang,biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng chất ma tuý; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, bản tự khai, các bản cung, biên bản ghi lời khai, có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 10 giờ, ngày 24/02/2023 tại khu vực tổ dân phố 2, phường Tân Thanh, thành phố Điện Biên Phủ Phan Văn H đã có hành vi tang trữ 0,65gam Methamphetamine, mục đích để bản thân bị cáo sử dụng. Hnh vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu tHnh tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:

...c) Methamphetamine,... có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam"

Về tính chất, mức độ, động cơ Hnh vi phạm tội của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của NH nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã đi mua ma túy cất giấu để phục vụ nhu cầu bản thân sử dụng, bị cáo đã coi thường pháp luật. Chính vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục bị cáo trở tHnh công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm. Bị cáo có bố, mẹ bị cáo đã có hành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt (ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú); lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội. Việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưngnếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng có thể cải tạo, giáo dục bị cáo. Cho bị cáo có điều kiện để chăm sóc con nhỏ và thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật

. Hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân Tối cao xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nên hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng... Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản gì có giá trị. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có khả năng thi Hnh.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy0,59 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu vàng xanh, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ xanhquy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Đối với chiếc xe ô tô BKS 27A -072.69 là của anh Nguyễn Ngọc Oanh cho bị cáo mượn, anh Oanh không biết H sử dụng vào việc phạm tội. Sau khi tạm giữ cơ quan Điều tra đã trả lại xe ô tô cho anh Oanh, anh Oanh nhận ngày 12/3/2023. Xét thấy Cơ quan điều tra đã xử lý đúng theo quy định pháp luật. Vì vậy tại phiên tòa hôm nay HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.

. Các vấn đề khác: Đối với người đàn ôngtên Sơn không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác minh làm rõ được, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phan Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/5/2023). Giao bị cáo Phan Văn H cho Ủy ban nhân dân phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bịcáo. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,59 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định,01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu vàng xanh, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ xanh.

(Vật chứng đã được Công an thành phố Điện Biên Phủ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2023);

- Chấp nhận biên bản trao trả tài sản ngày 12/3/2023

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/5/2023). Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS TP ĐBP;

Trần Thị Thương Huyền

- HS THAHS;

- Ủy ban nhân dân phường Noong Bua, Tp. Điện Biên Phủ;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. THNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thương Huyền THNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thương Huyền Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

- Chi cục THADS TP ĐBP;

Trần Thị Thương Huyền

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTPĐBP;

- VKSND tỉnh ĐB;

- Cơ quan điều tra Công an TP ĐBP

- Cơ quan THAHS TP ĐBP;

- TAND tỉnh Điện Biên;

- Trại tạm giam;

- Sở Tư pháp tỉnh ĐB;

Trần Thị Thương Huyền

- Chi cục THADS TP ĐBP;

- HS THAHS;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VP. THNH VIỆN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thương Huyền

Cỡ chữ