vanban.org

Bản án 103/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2023/HS-ST
Ngày: 21/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành

2. Bà Nguyễn Thị Nhung

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại nhà văn hóa tổ 2-3, phường Đồng Quang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 76/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vi Văn Đ - Sinh năm 2003 tại Thái Nguyên. Nơi đăng ký HKTT: xóm L, xã HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: tổ 5, phường CH, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Vi Viết H (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Thuý V (tên gọi khác Nguyễn Thị Sinh). Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trạm tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

* Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Minh T, sinh ngày 03/01/2004. (Vắng mặt)

Trú tại: tổ 10, phường HVT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

2. Anh Trần Đình C, sinh năm 1969. (Vắng mặt)

Trú tại: tổ 12, phường GS, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 10 phút ngày 28/12/2022 tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân báo tin tại nhà nghỉ HT, thuộc tổ 13, phường GS, thành phố TN có một số đối tượng tụ tập liên quan đến mua bán ma túy, tổ công tác tiến hành kiểm tra nhà nghỉ HT phát hiện tại hành lang trước cửa phòng số 302 tầng 3 nhà nghỉ HT thấy một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến mua, bán ma tuý. Qua kiểm tra, nam thanh niên khai nhận tên là Vi Văn Đ và tự giác lấy từ túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 gói được gói bằng băng dính màu trắng bên trong có 02 túi nilon màu trắng đều chứa chất tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác (Đ khai nhận đó là ma túy tổng hợp dạng Ke) mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt phạm tội quả tang đối với Đ và niêm phong vật chứng (ký hiệu A) theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng.

Hồi 23 giờ 10 cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm tại tổ 5, phường CH, thành phố TN. Kết quả không phát hiện thu giữ gì.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 1,947 gam, lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên gửi giám định ký hiệu A1.

Tại bản Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma tuý, loại Ketamine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 1,947 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Vi Văn Đ khai nhận: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 28/12/2022, Đ đang ở nhà tại xã HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên thì có Triệu Văn T (sinh năm 1999, trú tại: xã HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên) gọi điện thoại bảo Đ đến phòng trọ của Tiến tại tổ 05, phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên cầm 02 chỉ ma tuý “Ke” mang đến tầng 3 nhà nghỉ HT thuộc tổ 13, phường GS, thành phố TN bán cho khách hộ T (sau khi bán được ma tuý T sẽ trả công cho Đ 200.000 đồng). Đ đồng ý, thuê taxi đến phòng trọ thì không thấy T, Đ nhìn thấy 01 gói ma túy “Ke” được gói bằng băng dính màu trắng tại nền sân trước cửa phòng trọ, Đ nhặt gói ma túy lên cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi thuê xe taxi đến nhà nghỉ HT để bán cho khách. Khi đến tầng 3 nhà nghỉ HT, Đ chưa kịp bán số ma tuý trên thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án:

- 02 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu A1, A2 bên trong chứa ma tuý và vỏ bao gói mẫu.

- 01 bì niêm phong ký hiệu B1 bên trong có 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, đã qua sử dụng.

Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKSTPTN, ngày 06/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Vi Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 05-07 triệu đồng.

Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy và vỏ bao gói mẫu được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội trong lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 28/12/2022, tại tổ 13, phường GS, thành phố TN, Vi Văn Đ có hành vi tàng trữ 1,947 gam Ketamine mục đích để bán kiếm lời thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.

Với hành vi nêu trên, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Vi Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm…”.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận, vì vậy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

. Vật chứng vụ án:

- Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong kí hiệu A1, A2 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng. Quá trình điều tra, tại phiên tòa xác định bị cáo dùng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Nguồn gốc số ma tuý thu giữ, Đ khai là của Triệu Văn Tiến. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Vi Văn Đ 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022.

Phạt bổ sung bị cáo 05 triệu đồng sung quỹ nhà nước.

- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 1,815gam ma túy và vỏ bao gói mẫu, mặt sau có chữ ký của Nguyễn Minh Thanh, Lê Tuấn Anh và các dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên.

- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa bì niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của Lý Văn Toán, Ngô Hoàng Đạo, Nguyễn Thị Mơ, Nguyễn Hữu Hùng, Vi Văn Đ, Nguyễn Minh Tuấn, Trần Đình Chiến và 03 dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, đã qua sử dụng, số imei: 353835108151673, số imei 2: 353835108141666.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2023 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Vi Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ