- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 103/2023/HS-ST Ngày: 26/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Minh
Bà Trần Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với Bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1991, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Con ông: Lò Văn T – Sinh năm 1959 và con bà: Lù Thị C – Sinh năm 1963; Vợ: Lò Thị K – Sinh năm 1988; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Chưa bị Tòa án nào xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/12/2022 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị K – Sinh năm 1988 – Địa chỉ: Bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 24/12/2022, Lò Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27U1 - 059.05 từ nhà ở bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến nhà Lường Thị T ở bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Qua trao đổi, T hỏi và mua được của T 03 gói Heroine với giá 250.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Mua ma túy xong, Tuấn cầm 03 gói Heroine ở tay trái rồi đi xe mô tô về nhà. Hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến cây xăng thuộc bản M, xã M, huyện Đ, T dừng lại vào đổ xăng thì bị tổ công tác Công an xã Mường Pồn, huyện Điện Biên kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 03 gói chất bột màu trắng nghi Heroine có đặc điểm: 01 gói được gói bằng nilon màu hồng, 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong là lớp nilon màu hồng, 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng. Tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 0,3 gam. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại FUTURE màu đen xám vàng, biển kiểm soát 27U1 – 059.05, số khung RLHJC5337DY019943, số máy: JC54E – 1019978, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra máy móc bên trong.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng ngày 24/12/2022 đã xác định như sau: Các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là 0,3 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 31/12/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu các cục bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định 0,25 gam và bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSĐB ngày 09/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,25 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án. Trả lại một xe mô tô BKS 27U1 – 059.05, nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE, màu đen xám vàng, số khung RLHJC5337DY019943, số máy: JC54E – 1019978, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra máy móc bên trong cho chủ sở hữu là chị Lò Thị K, sinh năm 1988, nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị K có ý kiến xin lại chiếc xe mô tô bị thu giữ vì đây là tài sản riêng của chị K mua trước khi kết hôn với bị cáo T.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Lò Văn T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 24/12/2022 tại cây xăng tại bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, bị cáo Lò Văn T bị tổ công tác Công an xã Mường Pồn phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3 gam Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do T khai mua của Lường Thị T ở bản H, xã M, huyện Đ với số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12 thì nghỉ ở nhà làm ruộng cùng gia đình. Đến năm 2015 đăng ký kết hôn với chị Lò Thị K và có với nhau 02 người con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2022. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2022 cho đến nay.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với Bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Số Heroine bị thu giữ là 0,3 gam, đã gửi giám định hoàn lại 0,25 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 27U1 – 059.05 thuộc sở hữu của chị Lò Thị K, sinh năm 1988, nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Chị K mua xe mô tô từ năm 2013 bằng tiền chị tích góp nhiều năm, đến năm 2015 chị K mới đăng ký kết hôn với bị cáo T nên chiếc xe mô tô là tài sản riêng của chị K. Chị K cho T mượn xe để đi nhưng không biết T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên cần trả cho chị K theo khoản 2 Điều 47/BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106/BLTTHS.
Các vấn đề khác:
Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ do Bị cáo mua của Lường Thị T ở bản H, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Qua điều tra T không thừa nhận bán ma túy cho T. Chỉ trên cơ sở lời khai duy nhất của Bị cáo T cơ quan Điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với Lường Thị T, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điệu kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 24/12/2022).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 0,25 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.
Trả một xe mô tô BKS 27U1 – 059.05, nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTURE, màu đen xám vàng, số khung RLHJC5337DY019943, số máy: JC54E – 1019978, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra máy móc bên trong cho chủ sở hữu chị Lò Thị K, sinh năm 1988, nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
(Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/3/2023).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người có QL, NVLQ; - Nhà tạm giữ CAHĐB; - VKSND huyện Điện Biên; -VKSND tỉnh Điện Biên; - CQCSĐT CAHĐB; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS huyện Điện Biên; - Toà án ND tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; - Sở tư pháp; - Lưu VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Nguyễn Thị Yên |