vanban.org

Bản án 103/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 12/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Huy K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Huy K 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2023. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "Quả tang Trần Huy K" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Huy K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Huy K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2023/HS-ST
Ngày 12-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Duyện

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Thu Huyền

Ông Chu Văn Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Vy Tiến Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Huy K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09 tháng 7 năm 1982 tại: Huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn L (Nguyễn Văn L1) và con bà: Phùng Thị X; vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án hình sự số 53/2017/HSST ngày 28/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt Trần Huy K 02 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc, phạt bổ sung 10.000.000 đồng, bị cáo Trần Huy K đã chấp hành xong (đã xoá án tích). Bị cáo bị tạm giữ ngày 06/9/2023, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến: Chị Lý Tố L2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 50 phút, ngày 05/9/2023, tổ công tác Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện Trần Huy K, sinh năm 1982, trú tại thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm nên tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ tại túi quần bên phải của Trần Huy K 03 (ba) túi nilon trong suốt, trong đó túi số 01 chứa 01 (một) viên nén màu đỏ và các cục chất tinh thể màu trắng, túi số 02 chứa 03 (ba) viên nén màu đỏ và các cục chất tinh thể màu trắng và túi số 03 chứa chất bột màu nâu. Trần Huy K khai nhận 03 (ba) gói nilon bị thu giữ kể trên là chất ma tuý của Trần Huy K mua về để sử dụng. Xác định có dấu hiệu tội phạm về ma túy nên tổ công tác đã đưa Trần Huy K cùng các vật chứng kể trên về trụ sở Công an thị trấn Đ, huyện C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ các vật chứng theo quy định.

Kết luận giám định số 919/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:

+ Mẫu 01: 01 (một) viên nén màu đỏ gửi giám định là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,101 gam (đã trừ bì); Chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,220 gam (đã trừ bì)

+ Mẫu 02: 03 (ba) viên nén màu đỏ gửi giám định là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,305 gam (đã trừ bì); Chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,164 gam (đã trừ bì)

+ Mẫu 3: Chất bột màu nâu gửi giám định là chất ma tuý Methamphetamine, có khối lượng 0,419 gam (đã trừ bì).

Tổng khối lượng 1,209 gam chất ma tuý Methamphetamine (đã trừ bì) (BL: 24)

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Huy K khai nhận: Bản thân Trần Huy K nghiện chất ma túy tổng hợp Methamphetamine từ năm 2017 cho đến khi bị bắt. Do có nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/9/2023 Trần Huy K đi bộ đến khu vực cầu vượt thuộc khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn tìm mua chất ma tuý về sử dụng thì gặp một người phụ nữ không quen biết. Tại đây, Trần Huy K đã mua của người phụ nữ này 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) thì được người này bán cho 03 (ba) gói ni lon bên trong có chứa chất ma tuý Methamphetamine. Sau khi có được chất ma tuý, Trần Huy K bỏ vào túi quần đang mặc trên người để đi tìm chỗ sử dụng thì bị Công an huyện C kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như trên.

Đối với người phụ nữ đã bán chất ma túy cho Trần Huy K ở khu vực cầu vượt thuộc khu G thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 05/9/2023, do Trần Huy K không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án.

Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 98/CT-VKS-CL ngày 08/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Trần Huy K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Huy K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Huy K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, không có tài sản gì có giá trị, là người nghiện ma túy, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "Quả tang Trần Huy K" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và hình dấu của phòng K1 tại phần giáp lai mới. Bên trong đựng 0,964 gam Methamphetamine.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhất trí với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Đối với người chứng kiến chị Lý Tố L2 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vì trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Trần Huy K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Hồi 22 giờ 50 phút, ngày 05/9/2023 tổ công tác Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại khu G, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện và bắt quả tang bị cáo Trần Huy K, đang cất giấu trên người 03 (ba) gói nilon bên trong các gói đều chứa chất ma tuý Methamphetamine, theo Kết luận giám định số 919/KL-KTHS ngày 08/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L, toàn bộ số ma túy thu của bị cáo Trần Huy K có tổng khối lượng 1,209 gam (đã trừ bì). Số ma túy này, bị cáo Trần Huy K cất giấu trên người mục đích để sử dụng. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Huy K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét về hành vi phạm tội: Bị cáo Trần Huy K có đầy đủ năng lực hành vi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo Trần Huy K có đủ khả năng để nhận thức việc tàng trữ trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Huy K thuộc trường hợp nghiêm trọng, việc tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây tác hại xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, do đó cần phải có mức hình phạt tương xứng đủ sức răn đe đối với bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Để có căn cứ quyết định hình phạt đối với bị cáo, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, qua đó ấn định mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Huy K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Trần Huy K có bố là ông Trần Văn L (Nguyễn Văn L1) và mẹ là bà Phùng Thị X là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử về tội Đánh bạc (đã được xóa án tích).

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo Trần Huy K ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện bị cáo nghề nghiệp lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị, là người nghiện ma túy, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "Quả tang Trần Huy K" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và hình dấu của phòng K1 tại phần giáp lai mới. Bên trong đựng 0,964 gam Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu vật giám định hết), là chất cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người phụ nữ đã bán chất ma túy cho Trần Huy K ở khu vực cầu vượt thuộc khu G thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn ngày 05/9/2023, do Trần Huy K không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về tội danh, hình phạt và các nội dung khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Trần Huy K bị kết án, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Huy K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Huy K 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/9/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín ghi chữ "Quả tang Trần Huy K" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh T, trợ lý giám định và hình dấu của phòng K1 tại phần giáp lai mới. Bên trong đựng 0,964 gam Methamphetamine.

(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/11/2023).

4. Về án phí: Bị cáo Trần Huy K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Huy K có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ