- Tranh chấp gì? án hình sự — ""Đánh bạc" đối với bị cáo Huỳnh Tố A - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tố A, về việc xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2023/HS-PT Ngày: 26/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vũ;
Các Thẩm phán:
Ông Hồ Văn Phụng;
Ông Nguyễn Thành Hữu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2023/TLPT-HS ngày 30/8/2023 đối với bị cáo Huỳnh Tố A do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tố A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2023/HS-ST ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Tố A; Sinh ngày: 01/01/1971; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Số C, đường D, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Huỳnh Ngọc Y, không rõ họ tên cha của bị cáo; Có chồng là ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1972 và 02 người con, người con lớn sinh năm 1996 và người con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/4/2023 cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tố A: Ông Nguyễn Trường T1-luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư thành phố C; Địa chỉ Văn phòng: Số E, đường H, Phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Các bị cáo Đoàn Như H, Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3, Dương Thị H1, Trịnh Tú Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc khoảng 13 giờ ngày 29/11/2022, tại nhà số C, đường D, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, Công an thành phố S kiểm tra phát hiện Huỳnh Tố A (là chủ nhà), Đoàn Như H, Trịnh Tú Q, Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3 và Dương Thị H1 đang có hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc ăn thua bằng tiền nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đồng thời, lực lượng Công an tạm giữ vật chứng gồm 01 chiếc chiếu, 08 bộ bài tứ sắc chưa qua sử dụng, 02 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng, 33 nút áo màu đen, 07 nút áo màu trắng, 32 thể nhựa nhỏ, có màu xanh, vàng, đỏ, hồng, 08 thể nhựa lớn, có màu cam, vàng, xanh và số tiền là 1.225.000 đồng. Ngoài ra, lực lượng Công an thu giữ tiền trên người của Huỳnh Tố A là 11.890.000 đồng, của Đoàn Như H là 1.960.000 đồng, của Huỳnh Thị Thùy T2 là 1.700.000 đồng, của Dương Thị H1 là 21.500.000 đồng.
Qua quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chứng minh được như sau: Vào ngày 29/11/2022, Huỳnh Tố A là người tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền tại nhà của Huỳnh Tố A ở nhà số C, đường D, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Những người tham gia đánh bạc có Huỳnh Tố A, Đoàn Như H, Trịnh Tú Q, Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3 và Dương Thị H1. Các bị cáo thỏa thuận đánh bạc với mức cá cược được tính theo từng chến, một chến là 1.500.000 đồng tương đương 300 lệnh, một lệnh là 5.000 đồng, mỗi người được chia hai thẻ nhựa lớn tương đương với 200 lệnh, 08 thẻ nhựa nhỏ tương đương 80 lệnh và 10 nút áo tương đương 10 lệnh, tổng cộng mỗi người được 290 lệnh, còn 10 lệnh tương đương 50.000 đồng là tiền xâu cho Huỳnh Tố A. Khi chơi đánh bạc, các bị cáo sử dụng một bộ bài tứ sắc gồm 112 lá chia cho mỗi người 20 lá bài, người chia bài thì được 21 lá, số lá bài còn lại thì để dưới chiếu bạc được dùng để kéo trong quá trình chơi, sau đó các bị cáo tiến hành chơi với nhau đến khi có một người hết bài rác (bài lẻ) trên tay trước thì thắng và kết thúc một bàn. Lúc này, người thua không trực tiếp trả tiền cho người thắng mà dùng lệnh để trả, đến khi có một trong bốn người thua hết lệnh đã được chia trước đó thì kết thúc một chến và tính tiền rồi chung chi trực tiếp bằng tiền cho nhau, người nào thua hết lệnh trước thì thua số tiền 1.500.000 đồng, những người còn lại thì kiểm tra lệnh của từng người, ai có nhiều hơn 300 lệnh thì thắng được số tiền tương đương số lệnh thắng được và nhân với một lệnh là 5.000 đồng, còn ai có ít hơn 300 lệnh thì thua số tiền tương đương với số lệnh thua và cũng nhân với một lệnh là 5.000 đồng, khi tính tiền thắng thua xong sẽ dư ra 200.000 đồng thì Huỳnh Tố A lấy tiền xâu, khi bị bắt quả tang đã chơi xong ba chến, Tố A đã xâu 600.000 đồng và đang chơi chến thứ tư. Đối với Huỳnh Tố A trong người có số tiền là 10.430.000 đồng, trong đó sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại sử dụng vào mục đích cá nhân, tham gia đánh bài 02 chến, thua số tiền 150.000 đồng. Đối với Đoàn Như H mang theo số tiền 2.410.000 đồng, trong đó sử dụng 1.910.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại sử dụng vào mục đích cá nhân, tham gia đánh bài 04 chến, thua số tiền 500.000 đồng. Đối với Huỳnh Thị Thùy T2 mang theo số tiền 1.500.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia 04 chến, thắng được số tiền 1.000.000 đồng. Đối với Tô Thị Thùy T3 mang theo số tiền 3.000.000 đồng, trong đó sử dụng 1.700.000 đồng dùng để đánh bạc, số tiền còn lại sử dụng vào mục đích cá nhân, tham gia đánh bài 04 chến, thua số tiền 1.700.000 đồng. Đối với Dương Thị H1 mang theo số tiền 21.500.000 đồng, trong đó sử dụng 1.500.000 đồng dùng để đánh bạc, số tiền còn lại sử dụng vào mục đích cá nhân, tham gia đánh bài 02 chến, thắng được số tiền 1.050.000 đồng. Đối với Trịnh Tú Q mang theo số tiền 525.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia đánh bài 02 chến, thua số tiền 350.000 đồng. Số tiền thu tại chiếu bạc là 1.225.000 đồng gồm của Dương Thị H1 là 1.050.000 đồng là tiền thắng bạc và của Trịnh Tú Q là 175.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.635.000 đồng.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2023/HS-ST ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Tố A.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đoàn Như H.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Thị Thùy T2.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Thị H1.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Tô Thị Thùy T4.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trịnh Tú Q.
- Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tố A, Đoàn Như H, Trịnh Tú Q, Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3 và Dương Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Tố A 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Tố A số tiền 10.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Như H 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Đoàn Như H số tiền 10.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
- Xử phạt các bị cáo Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3, Dương Thị H1 và Trịnh Tú Q, mỗi bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đồng thời, giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, quy định về trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú và trách nhiệm của các bị cáo khi cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên. Đồng thời, phạt mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
- Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo.
* Ngày 25/7/2023, bị cáo Huỳnh Tố A kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tố A vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do phải dự phiên tòa tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội vào ngày 27/9/2023 (có nộp kèm bản sao không có chứng thực Giấy báo số 60457 ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội).
- Bị cáo Huỳnh Tố A giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Huỳnh Tố A phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Huỳnh Tố A các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định pháp luật. Xét cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Huỳnh Tố A mức án 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, vai trò của bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào đáng lẽ bị được áp dụng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa được áp dụng đối với bị cáo nên không có cơ sở để giảm hình phạt cho bị cáo. Đồng thời, tình hình tội phạm đánh bạc trên địa bàn diễn ra khá phức tạp và bị cáo Huỳnh Tố A là người giữ vai trò thứ nhất trong vụ án nên việc cho bị cáo hưởng án treo sẽ không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Tố A, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tố A vắng mặt lần thứ nhất và có đơn xin hoãn phiên tòa do bận dự phiên tòa tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội vào ngày 27/9/2023 (có nộp kèm bản sao không có chứng thực Giấy báo số 60457 ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội). Tuy nhiên, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng triệu tập người bào chữa cho bị cáo dự phiên tòa vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 26/9/2023 và đã được tống đạt hợp lệ cho người bào chữa của bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lý do vắng mặt của người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Tố A không phải là lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan nên không thuộc trường hợp hoãn phiên tòa. Vì vậy, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tố A lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 25/7/2023 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tố A, về việc xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo Huỳnh Tố A, Đoàn Như H, Trịnh Tú Q, Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3 và Dương Thị H1 như sau: Vào lúc khoảng 13 giờ ngày 29/11/2022, tại nhà số C, đường D, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, Công an thành phố S kiểm tra phát hiện Huỳnh Tố A (là chủ nhà), Đoàn Như H, Trịnh Tú Q, Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3 và Dương Thị H1 đang có hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc ăn thua bằng tiền nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận vào ngày 29/11/2022, Huỳnh Tố A là người tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền tại nhà của Huỳnh Tố A. Những người tham gia đánh bạc gồm có Huỳnh Tố A, Đoàn Như H, Trịnh Tú Q, Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3 và Dương Thị H1. Khi bị bắt quả tang đã chơi xong ba chến, Huỳnh Tố A đã xâu 600.000 đồng và đang chơi chến thứ tư. Đối với Huỳnh Tố A trong người có số tiền là 10.430.000 đồng, trong đó sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại sử dụng vào mục đích cá nhân, tham gia đánh bài 02 chến, thua số tiền 150.000 đồng. Đối với Đoàn Như H mang theo số tiền 2.410.000 đồng, trong đó sử dụng 1.910.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại sử dụng vào mục đích cá nhân, tham gia đánh bài 04 chến, thua số tiền 500.000 đồng. Đối với Huỳnh Thị Thùy T2 mang theo số tiền 1.500.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia 04 chến, thắng được số tiền 1.000.000 đồng. Đối với Tô Thị Thùy T3 mang theo số tiền 3.000.000 đồng, trong đó sử dụng 1.700.000 đồng dùng để đánh bạc, số tiền còn lại sử dụng vào mục đích cá nhân, tham gia đánh bài 04 chến, thua số tiền 1.700.000 đồng. Đối với Dương Thị H1 mang theo số tiền 21.500.000 đồng, trong đó sử dụng 1.500.000 đồng dùng để đánh bạc, số tiền còn lại sử dụng vào mục đích cá nhân, tham gia đánh bài 02 chến, thắng được số tiền 1.050.000 đồng. Đối với Trịnh Tú Q mang theo số tiền 525.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia đánh bài 02 chến, thua số tiền 350.000 đồng. Số tiền thu tại chiếu bạc là 1.225.000 đồng gồm của Dương Thị H1 là 1.050.000 đồng là tiền thắng bạc và của Trịnh Tú Q là 175.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 8.635.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận các bị cáo Huỳnh Tố A, Đoàn Như H, Trịnh Tú Q, Huỳnh Thị Thùy T2, Tô Thị Thùy T3 và Dương Thị H1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tố A, về việc xin giảm hình phạt: Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo Huỳnh Tố A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét trong vụ án này, bị cáo Huỳnh Tố A là người giữ vai trò thứ nhất trong vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo Huỳnh Tố A mức án 06 tháng tù và áp dụng hình phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò của bị cáo trong vụ án, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Tố A nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng các khoản án phí sơ thẩm, tiền thu lợi bất chính và tiền phạt bổ sung với tổng số tiền là 12.300.000 đồng, đây là nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước mà bị cáo phải thi hành theo quyết định của bản án sơ thẩm, có phần nào thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo nhưng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hình sự nào mà đáng lẽ bị cáo được áp dụng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với bị cáo nên không có căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo.
Xét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tố A, về việc xin hưởng án treo: Mặc dù, bị cáo Huỳnh Tố A bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng là có đủ điều kiện có thể xem xét cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm năm 2017). Tuy nhiên, tình hình tội phạm về xâm phạm trật tự công cộng, cụ thể là tình hình tội phạm đánh bạc trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng diễn biến khá phức tạp, đòi hỏi những người phạm tội đánh bạc giữ vai trò chủ yếu trong vụ án phải được xử lý nghiêm minh mới đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nên việc cho bị cáo hưởng án treo sẽ ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Huỳnh Tố A.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tố A, về việc xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo, giữ nguyên phần quyết định về hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Tố A của bản án sơ thẩm.
Đối với số tiền 12.300.000 đồng mà bị cáo Huỳnh Tố A đã nộp được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Huỳnh Tố A phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Tố A, về việc xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Tố A của Bản án hình sự sơ thẩm số 80/2023/HS-ST ngày 17/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
2. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17; Điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Tố A.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tố A 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Tố A số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.
3. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án đối với số tiền mà bị cáo Huỳnh Tố A đã nộp là 12.300.000 đồng (mười hai triệu, ba trăm ngàn đồng) theo các Biên lai thu tiền số 0004134 và 0004135 ngày 19/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử buộc bị cáo Huỳnh Tố A chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
5. Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01); - TAND TP. S (02); - VKSND TP. S (01); - CQĐT-Công an TP. S (01); - CQTHAHS-Công an TP. S (01); - Chi cục THADS TP. S (01); - Bị cáo, người bào chữa (02); - CQTHAHS-Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Phòng HSNV-Công an tỉnh Sóc Trăng (01); - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (01); - Lưu HSVA, THS (04). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Vũ |