vanban.org

Bản án 103/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 27/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Đánh bạc” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bui Van D "Danh bac" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2023/HS-PT
Ngày: 27 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Hồng

- Các Thẩm phán:

Ông Đỗ Mạnh Hùng

Ông Nguyễn Văn Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý Số 79/2023/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Bùi Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Văn Đ, sinh năm 1982; tại: Hà Nội; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn Đ1 và bà: Bạch Thị N; vợ: Nguyễn Thị T, con: 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 46/2008/HSST ngày 30/9/2008 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 43 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/10/2020 đến ngày 13/10/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại. (có mặt).

Trong vụ án còn có bị cáo khác không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 30 ngày 07/10/2020, Phòng PC 02 Công an tỉnh L phối hợp cùng Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại nhà Nguyễn Đăng K thuộc thôn T, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng các đối tượng đang thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài xì tẩy (xì tố) ăn thua trực tiếp bằng tiền mặt, bao gồm: Nguyễn Đăng K, Nông Văn A, Bùi Văn Đ, Hồ Văn T1.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Đăng K gọi điện thoại rủ Nông Văn A, Bùi Văn Đ và Hồ Văn T1 đến nhà K ở thôn T, xã B, huyện Đ để đánh bài ăn tiền. A, Đ, T1 đồng ý đến nhà K và cả 04 thống nhất đánh bài ăn thua bằng tiền mặt ngay tại nhà của K, địa điểm đánh bạc là khu vực nhà bếp. Hình thức đánh bài là đánh bài xì tẩy (xì tố. Trong ván bài nếu có ai thắng với số tiền trên 5.000.000đ thì người thắng ván đó lấy ra số tiền là 100.000đ bỏ vào lon sắt để xâu, số tiền xâu này dùng vào việc mua nước uống, mua bài phục vụ việc đánh bạc số tiền còn lại thì K được hưởng. Các dụng cụ phục vụ việc đánh bạc như bài, chăn, lon sắt, nắp nhựa do K cung cấp để chơi.

Tang vật thu giữ tại chiếu bạc:

- 02 bộ bài tây đã qua sử dụng tổng số 56 lá (mỗi bộ bài có 28 lá), 01 chiếc chăn, 01 lon bằng sắt, 01 nắp nhựa.

- Tiền thu trên chiếu bạc: 48.200.000đ (bốn mươi tám triệu hai trăm ngàn đồng) và 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) tiền xâu đựng trong lon sắt.

- Tiền thu giữ trong người các đối tượng dùng vào việc đánh bạc: Nguyễn Đăng K: 11.700.000đ; Nông Văn A: 19.000.000đ; Bùi Văn Đ: 7.000.000đ.

Như vậy tổng số tiền xác định trong vụ án dùng để đánh bạc là 86.700.000đ.

Đối với Nông Văn A quá trình điều tra đã bỏ trốn khởi địa phương nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và Quyết định truy nã số 01/CQCSĐT ngày 10/01/2022 để truy nã khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số 08/CT - VKS ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Đăng K, Bùi Văn Đ, Hồ Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết là BLHS 2015).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đăng K, Bùi Văn Đ, Hồ Văn T1 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng K 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 17; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Hồ Văn T1 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/10/2020 đến ngày 13/10/2020 vào thời gian chấp hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS 2015:

- Buộc bị cáo Nguyễn Đăng K phải nộp phạt bổ sung số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

- Buộc bị cáo Hồ Văn T1 phải nộp phạt bổ sung số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

- Buộc bị cáo Bùi Văn Đ phải nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 20/02/2023 bị cáo Bùi Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên xử, giữ nguyên kháng cáo và xuất trình biên lai thu tiền phạt bổ sung, tiền án phí theo bản án sơ thẩm đã tuyên xử.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 65 BLHS 2015 cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết là HĐXX) nhận định như sau:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong hạn luật định và đúng quy định nên thời hạn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/10/2020 bị cáo Nguyễn Đăng K gọi điện thoại rủ Nông Văn A, Bùi Văn Đ và Hồ Văn T1 đến nhà K ở thôn T, xã B, huyện Đ để đánh bài ăn tiền. Cơ quan Công an lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ trên chiếu bạc và số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 86.700.000đ, trong đó bị cáo Đ sử dụng 10.000.000đ để đánh bạc.

Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo đã được bản án sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Bùi Văn Đ: HĐXX thấy rằng khi quyết định hình phạt, bản án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo 36 tháng tù là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình biên lai nộp phạt bổ sung nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Trong vụ án này bị cáo tham gia phạm tội với vai trò thấp hơn các bị cáo khác, số tiền đánh bạc ít hơn bị cáo K. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng Điều 65 BLHS 2015 đối với bị cáo. HĐXX xét thấy bị cáo đủ điều kiện áp dụng Điều 65 BLHS, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo phòng ngừa tội phạm chung nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

Từ những nhận định trên, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2023/HS-ST ngày 14/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Xử:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (27-6-2023).

Giao bị cáo Bùi Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Bùi Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ