vanban.org

Bản án 103/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Văn Dũ-Lê Bảo Ngọc"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-6-2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và
gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Hữu Hiệp

Ông Huỳnh Việt Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 180/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn D, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp An Lạc, xã An Thạnh Tây, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Chị Lê Bảo N, sinh năm 1994 (xin vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn anh Huỳnh Văn D trình bày: Năm 2021 được sự đồng ý của hai bên gia đình nên anh và chị Lê Bảo N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, bất đồng ý kiến, nên thường xuyên cự cãi. Mặt dù, gia đình hai bên đã hàn gắn tình cảm nhiều lần, nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2022 đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Lê Bảo N; Về con chung, có 01 con chung tên Huỳnh Lê Tấn Phát, sinh ngày 30/4/2022, hiện đang sống chung với chị N. Khi ly hôn anh đồng ý giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, anh D có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

* Tại bản tự khai ngày 14 tháng 6 năm 2023 bị đơn chị Lê Bảo N trình bày: Chị với anh D tự nguyện chung sống với nhau và tổ chức đám cưới vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, nên vợ chồng đã sống ly thân khoảng 01 năm nay. Nay chị xét thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh D nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh D. Về con chung, có 01 người con chung tên Huỳnh Lê Tấn Phát, sinh ngày 30/4/2022, hiện con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn chị đồng ý trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, chị N có đơn đề nghị Toà án tiến hành xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Huỳnh Văn D khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Lê Bảo N, địa chỉ ấp 1, xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh D, chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh D và chị N.

Về quan hệ hôn nhân: Anh D với chị N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh An, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Do đó, hôn nhân giữa anh D với chị N là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Anh D yêu cầu ly hôn và chị N đồng ý ly hôn với anh D. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn giữa anh D với chị N đã trầm trọng, quan hệ hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cho anh D với chị N ly hôn với nhau.

Về con chung: Xét thấy người con chung tên Huỳnh Lê Tấn Phát hiện đang sống chung với chị N và chị N đồng ý trực tiếp nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo cho con chung phát triển ổn định tâm sinh lý, nên Hội đồng xét xử giao con chung tên Huỳnh Lê Tấn Phát cho chị N tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh D với chị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và đình sơ thẩm anh D phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 53, 56, 57, 58 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5, khoản 6 Điều 27, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

* Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Huỳnh Văn D với chị Lê Bảo N.

2. Về con chung: Giao người con chung tên Huỳnh Lê Tấn Phát, sinh ngày 30/4/2022 cho chị Lê Bảo N tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Huỳnh Văn D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm anh Huỳnh Văn D phải nộp số tiền 300.000 đồng, ngày 09 tháng 6 năm 2023 anh D đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011239 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm anh Huỳnh Văn D, chị Lê Bảo N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ