vanban.org

Bản án 103/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kim Ngọc L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2022/HSST
Ngày 31 tháng 8 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lương Thanh Kỳ;

2/ Bà Trần Thúy Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án; Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2022/HSST ngày 19 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Kim Ngọc L – sinh ngày 20/01/1996, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: 22 KDC 7, ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Kim Ngọc T – sinh năm 1969 và bà Mai Thị S – sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 05/11/2021 đến nay “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- 1 -

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/11/2021, Kim Ngọc L đi xe ôm đến khu vực xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai để mua ma túy; tại đây, L mua của đối tượng tên thường gọi là H 01 bịch ma túy đá với giá 200.000đ và giấu trên vành mũ lưỡi trai của L đang đội trên đầu. L tiếp tục đi xe ôm mang theo ma túy và bộ dụng cụ để sử dụng ma túy (gồm nỏ thủy tinh và ống hút) đến nhà của Võ Thanh D tại ấp Đ, xã T, huyện Đ để lấy xe về (L và D là bạn, cùng nghiện ma túy; D là thợ sửa xe đang sửa xe cho L). Tại nhà D, L sớt ra một ít ma túy và rủ D sử dụng chung; số ma túy còn lại, L tiếp tục cất vào vành mũ lưỡi trai.

Đến 22 giờ 45 phút cùng ngày, Công an huyện Đ phối hợp Công an xã T kiểm tra hành chính nhà của D, thu giữ trong vành nón lưỡi trai của L đang đội trên đầu 01 bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; L khai nhận là ma túy đá của L tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vật chứng được niêm phong có chữ ký của Kim Ngọc L, người chứng kiến Đặng Văn Phước và hình dấu mộc màu đỏ của Công an xã Túc Trưng.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 2133/KLGĐ-PC09 ngày 11/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là Methamphetamine có trọng lượng 0,1661 gam (bút lục số 24).

Tại bản Cáo trạng số 176/CT-VKSĐQ ngày 19 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Kim Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:

- Kiểm sát viên sửa một phần Cáo trạng (đổi tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thành “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy”) và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 258; điểm s khoản 1 Điều 51, đề nghị xử phạt bị cáo Kim Ngọc L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng về tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Kiểm sát viên còn có quan điểm về biện pháp tư pháp và án phí.

- Bị cáo Kim Ngọc L nhận tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- 2 -

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Quán, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Kim Ngọc L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo Kim Ngọc L:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Kim Ngọc L đã khai nhận tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận:

Vào 22 giờ 45 phút ngày 04/11/2021, tại ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Kim Ngọc L đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1661 gam Methamphetamine thì bị Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã T bắt quả tang. Ngoài ra, Kim Ngọc L đã có hành vi rủ rê Võ Thanh D cùng sử dụng ma túy tại nhà của D. Do đó, hành vi của bị cáo L phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và phạm vào tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 258 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Kim Ngọc L về các tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Xét thấy: Ma túy là hiểm họa của mọi người, mọi nhà vì đây là chất gây nghiện, hủy hoại thể chất và tinh thần của người sử dụng nên là loại chất cấm lưu hành, do nhà nước độc quyền quản lý. Bị cáo Kim Ngọc L nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng không quyết tâm từ bỏ mà lại tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là cố ý phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng phạt và giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

- 3 -

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là đối tượng chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo phạm 02 tội nên Tòa án sẽ lượng hình đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định của điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.

[6] Về biện pháp tư pháp:

- Mẫu vật vụ số 2133/KLGĐ-PC09 ngày 11/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai (sau giám định) chứa ma túy - là vật cấm sử dụng và lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối tượng tên H hiện không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối tượng Võ Thanh D là người sử dụng ma túy chung với L nhưng không góp tiền mua ma túy chung với L. Cơ quan điều tra đã bàn giao D cho Công an xã T lập hồ sơ quản lý đối tượng nghiện tại địa phương theo quy định là phù hợp.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Kim Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy”.

2/ Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 258; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

3/ Về hình phạt:

- 4 -

Xử phạt bị cáo Kim Ngọc L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy”;

Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2021.

4/ Về biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy sau giám định số 2133/KLGĐ-PC09 ngày 11/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai.

(Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2022).

5/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

6/ Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ