vanban.org

Bản án 103/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 22/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T phạm tội “Đánh bạc".

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: 1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với tất cả các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T; Riêng các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn R cùng đồng bọn phạm tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T phạm tội “Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2022/HS-ST
Ngày: 22 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đức Bản

Bà Nguyễn Thị Ngân Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hải Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Cao Văn R, sinh ngày: 04/5/1972 tại tỉnh N. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xã G, huyện G, tỉnh N. Tạm trú: TDP P, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 07/10; Nghề nghiệp: Thợ mộc. Con ông Cao Văn S (Đã chết) và bà: Hoàng Thị K, sinh năm 1953; Anh chị em ruột: Có 04 người, R là con đầu trong gia đình. Có vợ: Lê Thị H, sinh năm 1973 và có 02 người con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Ngày 17/8/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh đến nay. Có mặt tại phiên toà.

2. Roãn Văn S, sinh ngày: 02/9/1972 tại tỉnh N. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Tạm trú: Tổ dân phố A, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 06/10; Nghề nghiệp: Thợ mộc.

1

Con ông Roãn Văn T (Đã chết) và bà Vũ Thị D (Đã chết). Anh chị em ruột: Có 07 người, S là con út trong gia đình. Có vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1977 và có 02 người con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1998. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Ngày 17/8/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh đến nay. Có mặt tại phiên toà.

3. Nguyễn Văn Đ, sinh ngày: 15/8/1975 tại tỉnh N. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Tạm trú: Tổ dân phố B, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Nghề nghiệp: Thợ mộc. Con ông Nguyễn Văn Đ1 (Đã chết) và bà Lê Thị M, sinh năm 1941. Anh chị em ruột: Có 04 người, Đ là con út trong gia đình. Có vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1980 và có 02 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình nhân thân: Ngày 09/7/2021, bị Công an thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã thi hành.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Ngày 17/8/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh đến nay. Có mặt tại phiên toà.

4. Đỗ Văn T, sinh ngày: 25/4/1971 tại tỉnh N. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.Tạm trú: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 07/10; Nghề nghiệp: Thợ mộc. Con ông: Đỗ Văn N, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1945. Anh chị em ruột: Có 06 người, T là con thứ 03 trong gia đình. Có vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1975 và có 02 người con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình nhân thân: Ngày 10/5/2004, bị phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã thi hành.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới. Ngày 17/8/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và Tạm hoãn xuất cảnh đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

-Người làm chứng:

1. Anh Trần Đức H, sinh năm 1990; Nơi ĐKNKTT và chổ ở: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Tạm trú phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

2. Anh Vũ Đức V, sinh năm 1967; Nơi ĐKNKTT và chổ ở: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Tạm trú: phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

3. Anh Vũ Văn K, sinh năm 1969; Nơi ĐKNKTT và chổ ở: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Tạm trú: TT Nông Trường V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

4. Anh Trần Văn Tiến, sinh năm 1969; Nơi ĐKNKTT và chổ ở: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Tạm trú: phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 12/8/2022, tại nhà Cao Văn R thuộc tổ dân phố P, phường B, thành phố Đ, Đội Cảnh sát hình sự - Công an thành phố Đ bắt quả tang Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Chắn” 04 người, sử dụng bộ bài Tổ tôm 100 quân.

Tại giữa sòng bài, lực lượng Công an thu giữ 01 bộ bài Tổ tôm 100 quân và số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, cụ thể: Thu giữ 260.000 đồng dưới chỗ ngồi Cao Văn R dùng để đánh bạc; thu giữ 3.480.000 đồng dưới chỗ ngồi và 20.375.000 đồng trong người Roãn Văn S dùng để đánh bạc; thu giữ 110.000 đồng dưới chỗ ngồi và 7.500.000 đồng trong người Nguyễn Văn Đ dùng để đánh bạc; thu giữ 680.000 đồng dưới chỗ ngồi Đỗ Văn T dùng để đánh bạc.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 14 giờ cùng ngày, Cao Văn R mời Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T đến nhà để ăn cúng rằm tháng bảy. Trong lúc ngồi chơi R rủ S, Đ và T đánh bài chắn Tổ tôm thắng thua bằng tiền thì cả ba đồng ý. R lấy bộ bài Tổ tôm đã cũ ở trong góc nhà ra rồi cả 04 người ngồi giữa phòng khách đánh bài.

Bài “Chắn” là 01 bộ bài gồm 100 quân bài, trên các quân bài gồm phần chữ và phần hình ảnh. Chữ ở bên phải thể hiện các hàng Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục, Thất, Bát, Cửu, Chi. Chữ phía bên trái thể hiện các chất Vạn, Văn, Sách.

Luật chơi được quy ước như sau: 02 đến 04 người chơi ngồi vòng tròn trên chiếu, mỗi người được chia 19 quân bài, những quân bài còn lại đặt giữa chiếu gọi là “Nọc”.

Cách chia: 02 người cùng chia (02 người không chéo cánh với người ù ván trước). Mỗi người lấy khoảng một nửa bộ bài, chia rải đều, úp mặt thành 05 phần (02 người chia làm 10 phần), sẽ thừa từ 0 đến 05 quân. Khi chia xong, lấy 05 phần này bỏ vào 05 phần kia thành 05 phần chung, 05 quân bài thừa được đưa cho người thắng ván trước để chọn nọc.

Chọn Nọc, bốc Cái: Người thắng ván trước bỏ 05 quân thừa vào 01 phần bài bất kỳ để làm “Nọc”, rồi rút ngẫu nhiên 01 quân trong Nọc, lật ngửa vào 01 phần bài bất kỳ trong 04 phần còn lại - phần này gọi là bài cái, quân lật ngửa gọi là “Cái”. Việc bốc cái là để xác định ai được phần bài nào và ai là người đánh đầu tiên trong ván. Từ quân cái, xác định được 01 số (chi là 01, nhị là 02, tam là 03...). Đếm từ người bốc cái là 01, lần lượt theo chiều tay phải, người tiếp theo là 02, tiếp nữa là 03... đến số của quân cái là người được phần bài cái và được đánh đầu.

*Chắn, cạ, ba đầu, què:

Chắn: Là 02 quân bài giống hệt nhau.

3

Ví dụ: 02 quân chi chi, hoặc 02 quân nhị văn.

Cạ: Là 02 quân bài giống nhau về số, khác chất.

Ba đầu: Là 03 quân cùng số, khác chất.

Què: Khi lên bài (sau khi được chia), thường sẽ phải xếp lại bài cho dễ nhìn: Chọn hết các Chắn xếp trước, rồi xếp Cạ, Ba đầu. Những quân lẻ ra gọi là quân Què, xếp ngoài cùng (Những quân này thường được ăn vào hoặc đánh đi để thêm Chắn hoặc Cạ nhằm để tròn bài và ù).

* Đánh bài: Theo vòng tay phải, mỗi người khi đến lượt có thể thực hiện: Đánh, Bốc Nọc, Ăn, Dưới, Chíu, Trả Cửa, Ù.

Đánh: Lấy 01 quân trong bài của mình đánh ngửa xuống chiếu bên tay phải. Chỗ ở giữa hai người chơi cạnh nhau gọi là “Cửa”. Cửa bên phải của một người gọi là cửa chỉ của người đó, cửa bên trái gọi là cửa trên, bên phải là cửa dưới (Cửa trên của một người cũng là cửa chỉ của người bên trái).

Bốc Nọc: Bốc 01 quân trong Nọc đặt ngửa vào cửa chì.

Ăn: Nếu quân bài dưới chiếu hợp với 01 quân nào đó trên tay thành Chắn hoặc Cạ thì có thể “Ăn”: Nhặt quân dưới chiếu đặt ngửa vào lòng, rồi rút quân trên tay đặt ngửa lên trên quân vừa ăn được.

Khi một người vừa bốc, thì người đó được quyền ăn quân vừa bốc đó. Nếu không ăn thì hô “Dưới”, khi đó, người bên phải được quyền ăn. (Nếu người đó cũng không ăn thì họ có thể bốc để ăn quân chính họ vừa bốc (hoặc lại có thể Dưới).

Chíu: Là cách ăn đặc biệt: Người có 03 quân bài giống hệt nhau, dưới chiếu lại có 01 quân nữa cũng giống như vậy thì có thể ăn quân dưới chiếu dù quân đó được bất kỳ ai bốc hoặc đánh.

Trả Cửa: Khi 01 quân được bốc hoặc đánh vào cửa của ai đó, dù chưa đến lượt, người chơi vẫn có thể Chíu trước khi người khác ăn (Chíu ưu tiên hơn ăn). Sau đó người chơi phải “Trả Cửa”: Đánh 01 quân thế vào chỗ quân vừa Chíu để ván chơi được tiếp tục bình thường.

Ù: Mục tiêu của trò chơi là “Ù”, đó là khi 19 quân của người chơi (gồm cả những quân ăn được) hợp với 01 quân vừa bốc từ Nọc (bất kỳ ai bốc) thành 10 bộ (Chắn hoặc Cạ), trong đó có ít nhất 06 Chắn (Chíu được tính là 02 Chắn).

*Luật đánh bài: Khi chơi, không được vi phạm các luật, nếu vi phạm sẽ bị phạt như trong mục tính điểm:

0. Trái vỉ: Khi ăn Cạ, phải lấy quân ăn được dưới chiếu bỏ vào lòng, rồi lấy quân ăn trên tay đặt lên trên quân ăn được. Nếu làm ngược lại đặt quân ăn được lên trên quân ăn thì là “Trái vỉ”.

1. Ăn treo tranh: Ăn được thành Chắn nhưng lại ăn Cạ.

2. Chíu được nhưng lại ăn thường.

4

3. Ăn chọn Cạ: Lấy 01 quân trong Cạ sẵn có để ăn Cạ.

4. Ăn Cạ chuyển chờ: Lấy 01 quân chờ ù để ăn Cạ.

5. Có Chắn cấu Cạ: Lấy 01 quân trong Chắn sẵn có để ăn Cạ.

6. Bỏ Chắn ăn Chắn: Trước đã bỏ không ăn Chắn này sau đó lại muốn ăn lại.

7. Bỏ Chắn ăn Cạ: Lấy 01 quân trước đó đã bỏ ăn Chắn để ăn Cạ.

8. Bỏ Cạ ăn Cạ: Lấy 01 quân trước đó đã bỏ ăn Cạ để ăn Cạ.

9. Bỏ Chắn đánh Chắn: Bỏ không ăn 01 quân sau lại đánh đúng quân đó.

10. Đánh Cạ ăn Cạ: Đã đánh cả 01 Cạ (02 quân) đi thì không được ăn bất kỳ Cạ nào nữa.

11. Xé Cạ ăn Cạ: Đã đánh 01 quân, sau không được dùng quân hàng đó để ăn Cạ.

12. Đánh 01 quân rồi sau lại ăn đúng quân đó.

13. Đánh đôi chắn đi.

14. Ăn 01 quân rồi sau lại đánh đúng quân đó.

15. Ăn Cạ rồi lại ăn Chắn cùng hàng .

16. Đánh Cạ khi đã ăn Cạ.

17. Ăn Cạ đánh quân cùng hàng.

*Cước Xướng:

Cước: Khi ù, nếu bài ù có những điểm đặc biệt thì sẽ được ăn thêm tiền. Điểm đặc biệt ấy gọi là “Cước”. Chắn (bí tứ) có những cước sau:

1. Xuông: Bài Ù không có gì đặc biệt (không có cước nào) thì gọi là ù “Xuông”. Tùy theo quy định của tập thể người chơi (gọi là làng), có thể cho phép ù Xuông hay không.

2. Thông: Nếu ván trước ù và xướng đúng, hoặc ván trước treo tranh, ván sau cũng ù thì ván sau được hỗ cước “Thông” (nếu hòa, xướng sai, bỏ ù, ù báo hoặc ù láo thì ván sau không được hô Thông).

3. Chì: Nếu ù quân ở cửa “Chì” (do mình bốc, hoặc do người khác Chíu rồi trả cửa, rồi mình chịu ù)

4. Thiên ù: Người có cái (được chia 20 quân) tròn bài, ù luôn thì gọi là “Thiên ù”.

5. Hai chíu: Nếu trong ván mình đã Chíu hai phát thì khi ù được hô “Hai chíu”.

6. Chíu ù: Chíu mà tròn bài, ù luôn thì là “Chíu ù”. Bình thường chỉ được phép ù quân bốc từ nọc lên. Riêng Chíu ù thì có thể ù quân người khác đánh hoặc trả cửa.

7. Ăn bòn; Hai ăn bòn: Đã có sẵn Chắn, tách 01 quân ra để ăn Chắn, sau lại lấy quân còn lại ăn Chắn tiếp gọi là “Ăn bòn”.

5

Nếu trong ván ăn bòn hai phát thì hô “Hai bòn”.

8. Ù bòn: Khi bốc được 01 quân mà mình có thể ăn bòn, nhưng lại tròn bài, ù luôn thì là “Ù bòn” (không được đếm vào số bòn mình ăn).

9. Thiên khai: Trên tay có 04 quân giống nhau gọi là có “Thiên khai” (Có thể có 0, 1, 2, 3, 4, thậm chí 5 thiên khai khi ù).

10. Thập thành: Bài ù có 10 chắn.

11. Bạch định: Bài ù toàn quân đen.

12. Tám đỏ: Bài ù có đúng 08 quân đỏ.

13. Lèo: Có cả cửu vạn, bát sách, chi chi thì gọi là có “Lèo”.

14. Tôm: Có cả tam vạn, tam sách, thất văn thì là có “Tôm”.

15. Bạch thủ: Nếu Thiên ù bạch thủ thì là có 06 Chắn, 04 Cạ. Nếu không phải Thiên ù thì phải có 05 Chắn, 04 Cạ, không có Ba đầu (Què 01 quân) và thêm cả quân ù vào là vừa tròn 06 Chắn.

16. Bạch thủ chi: Điều kiện như trường hợp Bạch thủ, với quân ù là chi chi.

17. Kính tứ chi: Bài ù có đúng 04 quân chi là đỏ.

Xướng: Khi ù, mình phải đọc tên các cước mình có, gọi là “Xướng”. Nếu xướng thừa (sai) cước mình không có thì sẽ bị đền tiền, xướng thiếu thì chỉ được ăn phần tiền tương ứng với những cước mình xướng.

Các cước xướng cũng cần theo thứ tự logic:

Thông, chỉ hô trước.

Ù “kiểu gì”: Thiên ù, Địa ù, Chíu ù, Ù bòn hô tiếp theo. Chỉ hô một từ “Ù”, nếu vừa địa ù, vừa chíu ù thì hô “Địa chíu ù”.

Ù “có gì”: Có Tôm, có Lèo, có Chíu, có Thiên khai, có Ăn bòn hô sau cùng.

* Tính điểm:

Điểm, Dịch: Mỗi cước được quy định tương ứng với số “Điểm” và số “Dịch”. Khi ù (Xướng đúng), dựa vào các cước xướng sẽ tính ra số điểm tổng, nhân tổng này với số tiền cho mỗi điểm sẽ ra số tiền mỗi người thua phải mất cho người ù.

Điểm tổng được tính như sau:

Nếu chỉ xướng một cước thì điểm tổng bằng Điểm của cước đó.

Nếu xướng nhiều cước thì điểm tổng bằng Điểm của cước có điểm lớn nhất cộng tổng số Dịch của các cước còn lại.

*Ăn tiền:

Nghỉ ăn tiền: Khi ù, người ù phải hạ bài cho làng kiểm tra. Nếu làng phát hiện ra người ù đã phạm lỗi (Một trong những lỗi sau: “Ăn treo tranh”, “Trái vỉ”, “Chíu được nhưng lại ăn thường”, “Bỏ ù”) thì người ù không được ăn tiền.

6

Ù láo, ù báo: Chưa ù mà đã hô ù thì là “Ù láo”. Ù, nhưng trước đó đã phạm lỗi mà không phải là lỗi nghỉ ăn tiền ở trên thì là “Ù báo”. Ù láo hoặc ù báo bị phạt bằng 08 đỏ, 02 lèo. Ù bạch thủ mà không hô bị đền làng.

Xướng sai, xướng thiếu:

Xướng sai (hoặc thừa) sẽ phải đền tiền cho làng: Đền cho mỗi người bằng số tiền tương ứng với cước mình xướng sai.

Xướng thiếu sẽ chỉ được ăn tiền những cước mà mình đã xướng.

Việc đánh bạc thắng thua được tính như sau:

Trong một ván bài, người chơi nào ù sẽ thắng, những người chơi còn lại sẽ trả tiền cho người thắng. Nếu ván bài có người thắng ù xuông (không có cước nào) thì ba người thua mỗi người sẽ trả cho người thắng số tiền 30.000 đồng. Nếu ván bài có người thắng ù tôm, ù thông, ù chì thì ba người thua mỗi người sẽ trả cho người thắng số tiền 40.000 đồng. Nếu ván bài có người thắng ù lèo thì những người chơi thua còn lại trả cho người thắng số tiền 50.000 đồng. Nếu ván bài có người thắng ù cước thì những người chơi thua còn lại trả cho người thắng số tiền 100.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 1074/KL-KTHS ngày 28/9/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Số tiền 7.610.000 đồng tạm giữ tại Nguyễn Văn Đ; số tiền 23.855.000 đồng tạm giữ tại Roãn Văn S; số tiền 680.000 đồng tạm giữ tại Đỗ Văn T; số tiền 260.000 đồng tạm giữ tại Cao Văn R là tiền thật của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ: 01 bộ bài Tổ tôm 100 quân, đã qua sử dụng; thu giữ và nộp vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Bình tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số tiền 32.405.000 đồng (Trong đó: thu của Roãn Văn S 23.855.000 đồng; Nguyễn Văn Đ 7.610.000 đồng; Đỗ Văn T 680.000 đồng và Cao Văn R 260.000 đồng).

Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKSĐH-TA ngày 02 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố các bị cáo Cao Văn R, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn Đ và Roãn Văn S về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Cao Văn R, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn Đ và Roãn Văn S phạm tội “Đánh bạc”, đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo. Riêng bị cáo Đỗ Văn T, Nguyễn Văn Đ được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Đề nghị xử phạt tiền đối với

7

các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Đỗ Văn T và Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tổ tôm 100 quân, đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 32.405.000 đồng (Trong đó: thu của Roãn Văn S 23.855.000 đồng; Nguyễn Văn Đ 7.610.000 đồng; Đỗ Văn T 680.000 đồng và Cao Văn R 260.000 đồng).

Ý kiến của các bị cáo Cao Văn R, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn Đ và Roãn Văn S đã thừa nhận toàn bộ hành vi Đánh bạc đúng như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để làm rèn luyện bản thân và giúp đở gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố Đồng Hới lập lúc 16h30 ngày 12/8/2022, cũng như phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi và tranh tụng công khai tại phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 12/8/2022, tại nhà Cao Văn R thuộc tổ dân phố P, phường B, thành phố Đ, Đội Cảnh sát hình sự - Công an thành phố Đ bắt quả tang Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T đang đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Chắn” 04 người, sử dụng bộ bài Tổ tôm 100 quân. Việc đánh bạc thắng thua được tính như sau: Trong một ván bài, người chơi nào ù sẽ thắng, những người chơi còn lại sẽ trả tiền cho người thắng. Nếu ván bài có người thắng ù xuông (không có cước nào) thì ba người thua mỗi người sẽ trả cho người thắng số tiền 30.000 đồng. Nếu ván bài có người thắng ù tôm, ù thông, ù chì thì ba người thua mỗi người sẽ trả cho người thắng số tiền 40.000 đồng. Nếu ván bài có người thắng ù lèo thì những người chơi thua còn lại trả cho người thắng số tiền

8

50.000 đồng. Nếu ván bài có người thắng ù cước thì những người chơi thua còn lại trả cho người thắng số tiền 100.000 đồng. Các bị cáo đã sử dụng tổng số tiền vào việc đánh bạc là 32.405.000 đồng, trong đó thu của Roãn Văn S 23.855.000 đồng; Nguyễn Văn Đ 7.610.000 đồng; Đỗ Văn T 680.000 đồng và Cao Văn R 260.000 đồng.

Do vậy hành vi của Cao Văn R, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn Đ và Roãn Văn S đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.

Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Cao Văn R, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn Đ và Roãn Văn S là những người có nhận thức, đáng lẽ các bị cáo phải biết hành vi tụ tập đánh bạc là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến an toàn công cộng ảnh hưởng đến an ninh xã hội, đó là một trong những tệ nạn xã hội cần phải được ngăn chặn, nhưng các bị cáo lại cố tình thực hiện. Điều đó chứng tỏ các bị cáo là những người thiếu ý thức rèn luyện, coi thường pháp luật nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục phòng ngừa chung.

Trong vụ án này Cao Văn R là người chủ động rủ rê các bị cáo khác và bản thân bị cáo cũng trực tiếp tham gia đánh bạc, sử dụng số tiền đánh bạc là 260.000 đồng; Các bị cáo Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T đều là người đã trưởng thành, có năng lực hành vi và có thể nhận thức được việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng khi bị Cao Văn R rủ rê, các bị cáo không những không can ngăn mà còn hưởng ứng và nhiệt tình tham gia đánh bạc.

Đối với Roãn Văn S là người trực tiếp tham gia đánh bạc sử dụng số tiền 23.855.000 đồng, đối với Nguyễn Văn Đ là người trực tiếp tham gia đánh bạc sử dụng số tiền 7.610.000 đồng và bị cáo Đỗ Văn T là người trực tiếp tham gia đánh bạc sử dụng số tiền 680.000 đồng. Điều đó cho thấy các bị cáo đều là những người có ý thức coi thường pháp luật, nên cần xử lý nghiêm minh nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét cho các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, đã có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Riêng bị cáo Nguyễn Văn Đ có Bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang và Huân chương chiến công và bị cáo Đỗ Văn T có Bố được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

9

Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, đều có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt nên không cần thiết bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được hưởng hình phạt tiền là cũng đủ sức răn đe và giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho gia đình và xã hội.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ: 01 bộ bài Tổ tôm 100 quân, đã qua sử dụng; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số tiền 32.405.000 đồng.

Xét thấy đối với vật chứng là 01 bộ bài Tổ tôm 100 quân, đã qua sử dụng là công cụ các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 32.405.000 đồng (Trong đó: thu của Roãn Văn S 23.855.000 đồng; Nguyễn Văn Đ 7.610.000 đồng; Đỗ Văn T 680.000 đồng và Cao Văn R 260.000 đồng) là số tiền các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Các bị cáo Cao Văn R, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn Đ và Roãn Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T phạm tội “Đánh bạc".

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với tất cả các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T; Riêng các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.2 Về hình phạt: xử phạt các bị cáo:

- Phạt tiền Cao Văn R 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

- Phạt tiền Roãn Văn S 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

- Phạt tiền Nguyễn Văn Đ 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

- Phạt tiền Đỗ Văn T 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

10

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tổ tôm 100 quân, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 32.405.000 đồng (Trong đó: thu của Roãn Văn S 23.855.000 đồng; Nguyễn Văn Đ 7.610.000 đồng; Đỗ Văn T 680.000 đồng và Cao Văn R 260.000 đồng).

(Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2022 và biên lai thu tiền số 31AA/2021/0001351 ngày 22/11/2022, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới).

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Cao Văn R, Roãn Văn S, Nguyễn Văn Đ và Đỗ Văn T mỗi bị cáo phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/11/2022) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ