- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Vũ H - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Vũ H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2022/HS-ST Ngày: 05 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Khiêm
2. Ông Nguyễn Hữu Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2022 tại Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 99/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Vũ H, sinh năm 1982; giới tính: Nam; ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm 1, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Phạm Văn H1, sinh năm 1949; con bà Trần Thị H2 sinh năm 1950; gia đình có 03 anh em, bị cáo là út; có vợ là Đỗ Thị H3, sinh năm 1984; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21-9-2022 đến ngày 30-9-2022 được thay thể bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại.
Người làm chứng:
1. Chị Vũ Thị Th
2. Anh Trần Văn D
3. Anh Đỗ Văn Ch
(Tại phiên tòa, bị cáo có mặt. Những người làm chứng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ khoảng tháng 5 đến tháng 9 năm 2022, Phạm Vũ H thuê gian để xe máy của nhà chị Vũ Thị Th sinh năm 1986 ở xóm 9, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định để đặt bàn bán xổ số cho Công ty xổ số kiến thiết (XSKT) tỉnh Nam Định. Lợi dụng việc bán xổ số Phạm Vũ H đã bán số lô, số đề cho các khách chơi và không kênh chuyển cho ai mà tự giữ lại hết số lô, số đề này để ôm. Phạm Vũ H thỏa thuận với khách chơi là thanh toán tiền thắng thua lô, đề bằng tiền mặt vào chiều ngày hôm sau cũng tại bàn bán vé số của H. Phạm Vũ H khai khách mua (đánh) số lô, số đề đều là khách vãng lai không có quen biết từ trước, do đó H không xác định được cụ thể tên, tuổi, địa chỉ của các khách chơi.
Quá trình đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề, Phạm Vũ H thống nhất với khách như sau:
+ Về số đề: Đánh 1 ăn 70 lần, người chơi chọn số bất kỳ từ 00 đến 99, nếu 2 số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả XSKT miền Bắc ngày hôm đó trùng với số của người chơi đã chọn, thì người chơi sẽ được hưởng tiền gấp 70 lần số tiền người chơi đã ghi.
+ Số lô: Người chơi chọn số bất kỳ số từ 00 đến 99, nếu kết quả 27 giải XSKT miền Bắc ngày hôm đó có 2 số cuối cùng trùng với số của người chơi đã chọn thì người chơi sẽ được tính là trúng và được hưởng số tiền tương ứng 1 điểm lô khách mua 22.500 đồng trúng được 80.000 đồng.
Khoảng 17 giờ 20 ngày 21-9-2022, khi Phạm Vũ H đang ngồi tại bàn bán vé số đặt tại nhà chị Vũ Thị Th thì Trần Văn D sinh năm 1996, ở xóm 2A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định cùng Đỗ Văn Ch sinh năm 2001 ở xóm 34, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định đến mua số lô, số đề. Trần Văn D đánh 130 điểm lô x 22.500 đồng = 2.925.000 đồng và tiền đánh đề là 75.000 đồng, tổng số tiền Trần Văn D đánh lô, đề là 3.000.000 đồng; Đỗ Văn Ch mua 120 điểm lô x 22.500 đồng = 2.700.000 đồng, tiền đánh đề là 300.000 đồng, tổng số tiền Đỗ Văn Ch đánh lô, đề là 3.000.000 đồng. Khi Đỗ Văn Ch và Trần Văn D vừa thanh toán tiền đánh lô, đề cho H thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định bắt quả tang. Quá trình bắt, thu giữ 01 tờ giấy H dùng để tổng hợp số đề ngày 21-09-2022 với tổng số tiền đề đã bán cho khách là 2.190.000 đồng (các số đề của D, Ch thì H chưa tổng hợp vào bảng).
Như vậy, tổng số tiền Phạm Vũ H đã bán lô, đề cho khách ngày 21-9-2022 là 2.190.000 đồng (tiền bán cho khách đã ghi vào sổ) + 3.000.0000 đồng (tiền bán lô, đề cho Ch) + 3.000.0000 đồng (tiền bán lô, đề cho D) = 8.190.000 đồng.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 29-9-2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Vũ H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
* Về vật chứng của vụ án:
- Thu trên người đối tượng Trần Văn D, Đỗ Văn Ch: 02 phiếu ghi lô đề ngày 21-9-2022 (có chữ ký xác nhận của D, Ch).
- Thu trên người Phạm Vũ H: số tiền 8.400.000 đồng (trong đó 8.190.000 đồng là tiền H bán số lô, số đề cho khách 21-9-2022 và 210.000 đồng H khai là tiền mang đi thanh toán cho khách đánh lô đề thắng ngày hôm trước).
- Thu tại bàn nơi H bán số lô, số đề: 01 tờ giấy ghi các con số có chữ ký xác nhận của Phạm Vũ H; 01 tập phiếu ticke trắng và 02 điện thoại di động (ĐTDĐ). Gồm 01 ĐTDĐ Samsung Galaxy M32, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng và 01 ĐTDĐ OPPO màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng của Phạm Vũ H;.
Ngày 03-10-2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định giám định dữ liệu điện tử, phục hồi trích xuất dữ liệu đối với 02 ĐTDĐ thu của Phạm Vũ H. Bản kết luận giám định số 1435/KL-KTHS ngày 17-10-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Không phục hồi được dữ liệu tin nhắn trong các ứng dụng (SMS, Facebook, Zalo, Telegram); dữ liệu, thông tin (ảnh, ghi chú), lịch sử cuộc gọi trong các mẫu gửi giám định có liên quan đến hành vi đánh bạc trong thời gian từ tháng 8-2022 đến 21-9-2022.
Từ nội dung trên, tại Bản cáo trạng số 102/CT-VKSNĐ-P2 ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Phạm Vũ H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo Phạm Vũ H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố và bị đưa ra xét xử về tội “Đánh bạc” là đúng, không oan. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và rất ăn năn hối hận về hành vi đã gây ra. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và xin được cải tạo tại địa phương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Bị cáo Phạm Vũ H phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Vũ H từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Phạt tiền đối với bị cáo là 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 8.400.000 đồng thu giữ của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 02 ĐTDĐ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Đối với 01 tập phiếu ticke trắng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các chứng cứ sau: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; kết luận giám định; lời khai người làm chứng và các tài liệu trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 20 ngày 21-9-2022, Phạm Vũ H đang bán số lô, số đề cho Trần Văn D và Đỗ Văn Ch mỗi người 3.000.000 đồng tiền lô, đề tại bàn bán vé số của H ở xóm 9, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định bắt quả tang, ngoài ra H còn bán số lô, số đề cho khách không quen biết số tiền 2.190.000 đồng. Tài liệu điều tra, xác định tổng số tiền Phạm Vũ H bán số lô, số đề cho khách ngày 21-9-2022 là 8.190.000 đồng. Hành vi của Phạm Vũ H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, Đảng và Nhà nước đã tuyên truyền giáo dục hành vi đánh bạc dưới bất cứ hình thức nào nhằm mục đích thắng - thua bằng tiền mà không được Nhà nước cho phép đều bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm, đánh bạc là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, phá vỡ sự bình yên và hạnh phúc của nhiều gia đình, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần và nền kinh tế cộng đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực, nhận biết hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng do hám lời vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Vũ H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Phạm Vũ H đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy; bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh khó khăn và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Đối chiếu với quy định của Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 10-5-2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, xét thấy có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 BLHS, miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện để bị cáo H được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo vừa cải tạo vừa ổn định cuộc sống gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là thể hiện bản chất nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo nhưng vẫn đáp ứng công tác phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để tăng cường áp lực của việc ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn đánh bạc trái phép trong xã hội.
Những vấn đề liên quan trong vụ án: Hành vi của Trần Văn D, Đỗ Văn Ch mua số lô, số đề ngày 21-9-2022 với số tiền dưới 5.000.000 đồng, D và Ch đều chưa bị xử phạt hành chính hay bị kết án về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Nam Định đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn D, Đỗ Văn Ch theo khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2011/NĐ-CP của Chính phủ; Đối với Vũ Thị Th là người cho Phạm Vũ H thuê gian để xe mục đích bán xổ số, chị Th không biết H lợi dụng việc bán xổ số để bán lô, đề cho khách nên không xử lý đối với chị Th về hành vi đánh bạc là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 8.400.000 đồng liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 02 ĐTDĐ không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 tập phiếu ticke trắng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Vũ H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS.
Tuyên bố bị cáo Phạm Vũ H phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt Phạm Vũ H 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 21-9-2022 đến ngày 30-9-2022).
Giao bị cáo Phạm Vũ H cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên theo quy định của Luật Thi hành án hình sự thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 BLHS. Phạt tiền đối với Phạm Vũ H là 10.000.000 đồng.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS, Điều 106 của BLTTHS.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 8.400.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Vũ H.
- Tuyên trả cho bị cáo Phạm Vũ H: 01 (một) túi niêm phong bên trong có chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy M32, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng – ký hiệu A1, 01 (một) túi niêm phong bên trong có chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93, màn hình cảm ứng đã qua sử dụng - ký hiệu A2 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 tập phiếu ticke trắng.
(Chi tiết cụ thể ghi trong biên bản giao nhận vật chứng số 12/23 ngày 03 tháng 11 năm 2022 và Uỷ nhiệm chi số 37 ngày 08 tháng 11 năm 2022 giữa Công an tỉnh Nam Định và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định);
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Phạm Vũ H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Phạm Vũ H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND Cấp cao; - VKSND Cấp cao; - VKND tỉnh Nam Định; - Công an tỉnh Nam Định; - UBND xã H, huyện H; - Cục THADS tỉnh Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Đức Cảnh |