vanban.org

Bản án 103/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Sùng A S (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. * Tịch thu tiêu hủy các vật sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Sùng A S (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

H

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐIỆN BIÊN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 103/2022/HS-ST

Ngày: 28-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Hà Thị Vũ.

Ông Sùng A Xà.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Lan Hương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Trịnh Ngọc Minh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Sùng A S (tên gọi khác: không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984, tại huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: bản H, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sùng A T (đã chết) và bà Giàng Thị Th, sinh năm 1958; có vợ là Lý Thị M, sinh năm 1985 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2015 (con nhỏ nhất đã chết); Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, xử phạt 14 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 13/01/2020 chấp hành xong án phạt tù về địa phương sinh sống (đã được xóa án tích) và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/6/2022, tạm giam từ ngày 12/6/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử: bà Triệu Thị H, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

- Người chứng kiến: ông Khoàng Văn H, sinh năm: 1993; địa chỉ: bản M3, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 02/6/2022, bị cáo Sùng A S Điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WaVe RSX, biển kiểm soát 27S1-085.64 đi từ nhà ở bản H, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên lên khu vực bản M2, xã M, huyện M, mục đích mua ma túy về bán và sử dụng. Khi đi đến cầu rẽ vào bản M2, bị cáo S gặp một người phụ nữ dân tộc Dao (không rõ lai lịch), qua trao đổi bị cáo S mua được 05 gói Heroine đều gói ngoài bằng nilon màu xanh với giá 6.000.000 đồng. Mua bán xong, bị cáo S cất giấu số ma túy vào túi áo khoác đang mặc trên người, khi đi đến bãi đá thuộc bản M2 thì dừng lại lấy 03 gói Heroine gói vào một khẩu trang y tế màu trắng xanh, cất giấu vào bụi cỏ ven đường; 02 gói Heroine còn lại bị cáo mang về nhà cất giấu (01 gói cất giấu dưới chiếu và 01 gói cất giấu trong đống quần áo trên giường ngủ của hai vợ chồng). Khoảng 11 giờ ngày 03/6/2022, bị cáo Sùng A S Điều khiển xe mô tô đi lên chỗ cất giấu ma túy ngày hôm trước, lấy 03 gói Heroine cuốn vào cạp quần phía trước bụng đang mặc và đi về, khi đi đến khu vực thuộc bản M3, xã M, huyện Mthì bị cơ quan chức năng phát hiện bắt, thu giữ 03 gói Heroine có tổng khối lượng 25,13 gam, khám xét chỗ ở của bị cáo S thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 43,22 gam.

Tại bản Kết luận giám định số: 769/KL-KTHS, ngày 11/6/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 05 (năm) mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng A S gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Sùng A S là 68,35 gam.

Bản Cáo trạng số: 69/CT-VKS-P1 ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Sùng A S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm: tuyên bố bị cáo Sùng A S phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Sùng A S từ 16 năm đến 17 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo do bị cáo không có Điều kiện để thi hành án và cư trú tại vùng có Điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A S. Về vật chứng của vụ án: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử lý như sau: tịch thu tiêu huỷ 65,89 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 01 khẩu trang y tế màu trắng xanh thu giữ của Sùng A S.

Người bào chữa cho bị cáo Sùng A S không có ý kiến tranh luận về tội danh và Điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố và bản luận tội của Kiểm sát viên; không có khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tỉnh Điện Biên. Đề nghị HĐXX xem xét: bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có Điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, không được đi học và nhận thức pháp luật còn hạn chế; không có tình tiết tăng nặng; trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 16 năm tù như đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án, nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh.

Người chứng kiến anh Khoàng Văn H trình bày tại cơ quan Điều tra: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/6/2022 anh H được tổ công tác Công an huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên mời chứng kiến việc khám xét và bắt giữ đối với Sùng A S tại khu vực thuộc bản M3, xã M, huyện M, thu giữ 03 gói Heroine có tổng khối lượng 25,13 gam. Sùng A S khai nhận với tổ công tác, 03 gói chất bột bị thu giữ là ma túy Heroine, Su mua về để sử dụng và bán lẻ đang trên đường về nhà thì bị bắt giữ. Việc bắt giữ Sùng A S là khách quan, Su khai báo là tự nguyện, không bị ép buộc, không bị đánh đập.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh cũng như về hình phạt. Trong phần tranh luận Kiểm sát viên và Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận đối đáp gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cơ cơ hội cải tạo tốt trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội:

Quá trình thẩm tra các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:

Nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận và sử dụng, nên khoảng 18 giờ ngày 02/6/2022, bị cáo Sùng A S đi lên khu vực bản M2, xã M, huyện M mua được 05 gói Heroine của một người phụ nữ dân tộc Dao (không rõ lai lịch) với giá 6.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo chia 03 gói Heroine vào một khẩu trang y tế màu trắng xanh, cất giấu vào bụi cỏ ven đường; 02 gói Heroine còn lại bị cáo mang về nhà cất giấu. Khoảng 11 giờ ngày 03/6/2022, bị cáo Sùng A S Điều khiển xe mô tô đi lên chỗ cất giấu ma túy ngày hôm trước, lấy 03 gói Heroine, khi đi đến khu vực thuộc bản M3, xã M, huyện Mthì bị cơ quan chức năng phát hiện bắt, thu giữ 03 gói Heroine có tổng khối lượng 25,13 gam, khám xét chỗ ở của bị cáo S thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng 43,22 gam. Lời khai của bị cáo Sùng A S phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 34); biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng (BL 35-37); kết luận giám định (BL 40), lời khai của người chứng kiến Khoàng Văn H và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Sùng A S đã mua 05 gói Heroine có tổng khối lượng 68,35 gam của một người phụ nữ không quen biết để sử dụng và bán lẻ tìm kiếm lợi nhuận, khi đang trên đường về nhà thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Sùng A S gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 69/CT-VKS-P1 ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, Điều luật áp dụng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình Nhà nước nghiêm cấm. Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà trực tiếp là hoạt động mua bán chất ma túy. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu ma túy của bản thân và tìm kiếm lợi nhuận.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Bị cáo Sùng A S sinh ra và cư trú tại địa bàn có Điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bản thân không được học tập văn hóa. Bị cáo không có tiền sự, về tiền án: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, xử phạt 14 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 13/01/2020 chấp hành xong án phạt tù về địa phương sinh sống, tính đến thời điểm phạm tội đã được xóa án tích; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ, quá trình Điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Sùng A S.

Về hình phạt chính:

Từ các phân tích tại các đoạn [1], [2], [3], Hội đồng xét xử thấy, khối lượng ma túy bị cáo thực hiện mua bán là khá lớn do đó cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù có thời hạn, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa, bị cáo tại phiên tòa có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ biên bản xác minh tài sản của cơ quan cảnh sát Điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, gia đình bị cáo không có tài sản có giá trị, gia đình thuộc hộ nghèo; bị cáo không có thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên và Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các vấn đề khác của vụ án:

Đối tượng người phụ nữ dân tộc Dao theo lời khai của bị cáo là người bán ma túy, Cơ quan CSĐT không xác định được con người cụ thể, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Đối với chị Lý Thị M (là vợ của bị cáo), quá trình Điều tra đã làm rõ: việc bị cáo S mua ma túy và cất giấu tại giường ngủ của hai vợ chồng, chị M không biết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 65,89 gam Heroine và 01 cái khẩu trang y tế màu trắng xanh là vật chứng nhà nước cấm lưu hành, công cụ phương tiện phạm tội, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, WAVE RSX, biển kiểm soát 27S1-085.64, quá trình Điều tra xác định chủ sở hữu là Sùng A V (con trai bị cáo). Bị cáo S tự ý lấy đi, cháu Vàng không biết, ngày 23/8/2022 Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định số 37/QĐ-CSMT. Việc xử lý đồ vật của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đúng với quy định tại Điều 36 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí:

Bị cáo Sùng A S sinh sống ở vùng có Điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và đề nghị của Người bào chữa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên; Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Sùng A S (tên gọi khác: không) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A S 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2022.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy các vật sau:

01 (một) gói niêm phong bằng phong bì Công văn của Công an huyện Mường Nhé được dán kín bằng băng dính trong suốt. Mặt trước gói niêm phong dán miếng giấy có chữ đánh máy: Vật chứng còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định của Sùng A S, sinh năm 1984, trú tại bản H, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên. Bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé bắt quả tang về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy vào ngày 03/6/2022, tại khu vực bản M 3, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên. Vật chứng còn lại là 05 gói chất bột màu trắng, dạng thể rắn, nghi Heroine, có khối lượng là 65,89 gam. Mặt sau gói niêm phong có chữ ký giáp lai họ và tên của: Lò Văn H, Lê Văn Đ, Lò Văn C, Vừ A D, Sùng A S, điểm chỉ ngón trỏ phải của Sùng A S và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé.

- Theo Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 12 giờ 50 ngày 03/6/2022 và Biên bản mở niêm xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đồ vật, tài liệu vào hồi 16 giờ 00 ngày 03/6/2022: bên trong hộp niêm phong còn có: 01 (một) chiếc khẩu trang y tế màu trắng xanh;

- Tại bản Kết luận giám định số: 769/KL-KTHS ngày 11/6/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 65,89 gam chất bột màu trắng trong gói niêm phong là chất ma túy: Loại Heroine.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên và Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 09 tháng 9 năm 2022).

3. Về án phí: áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng A S.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Sùng A S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2022)./.

Cỡ chữ