- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc C - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C; Sửa một phần Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 323 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2022/HS-PT Ngày: 20/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Hồng Minh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Anh Tuấn
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
- Thư ký phiên toà: Bà Lại Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lương Hồng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 86/2022/TLPT-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Trần Quốc Công do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2022/HS-ST ngày 20/7/2022 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo: Trần Quốc C, sinh ngày: 08/8/1978 tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Tổ 02, thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T (c) và bà Nguyễn Thị L (s); Có vợ là Nguyễn Thị Thúy H và có 02 người con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Chưa;
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Đình T nhưng các bị cáo không kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 10 tháng 02 năm 2022, Nguyễn Thanh B đến khu trọ tại địa chỉ số 07/6 đường N, tổ 35, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 38C1 - 277.46, màu trắng - đen - bạc do anh Nguyễn Thành L làm chủ sở hữu đang để tại khu trọ nhưng không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Xe mô tô trên được anh Nguyễn Thành L để lại ở khu trọ trước khi về quê nhà nghỉ Tết tại Hà Tĩnh, anh L có nhờ ông Nguyễn Tường T là chủ khu trọ trông giữ giúp. Sau đó, B đã dùng thanh đoản phá khóa để lấy trộm chiếc xe của anh L. Sau khi lấy trộm, B đã chạy xe về Quảng Nam để tìm chỗ tiêu thụ nhưng đang trên đường đi thì bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Quảng Nam tuần tra phát hiện B cùng chiếc xe mô tô trên, có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, làm việc, Nguyễn Thanh B khai nhận đã trộm cắp chiếc xe mô tô trên tại khu trọ số 07/6 đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, Công an huyện T, tỉnh Quảng Nam đã bàn giao Nguyễn Thanh B cùng tang vật là xe mô tô nói trên cho Công an quận L, thành phố Đà Nẵng để điều tra theo thẩm quyền.
Theo Kết luận định giá trị giá 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS 38C1-277.46 là: 12.600.000đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh B còn khai nhận thực hiện thêm các vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Lúc 08 giờ 45 phút ngày 18/01/2022, Nguyễn Thanh B đã đi vào dãy trọ địa chỉ số 82 P, phường H, quận L bị cáo trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius; màu xám; Biển kiểm soát 72K1-615.64 của chị Lê Thị Hoài T. Sau khi trộm thì B đã tháo biển số xe nói trên ra và thay vào biển số xe 92E1-007.14 mà B đã nhặt được trước đó rồi tiếp tục di chuyển xe mô tô vừa trộm cắp được về xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam rồi bán lại cho Trần Quốc C với giá 3.000.000 đồng. Quá trình bán xe máy nói trên, Nguyễn Thanh B đã nói với C là nguồn gốc xe máy này là do B trộm cắp mà có. Bản thân C cũng biết rõ đó là xe do B trộm cắp mà có nhưng thấy B bán xe giá rẻ nên C vẫn đồng ý mua chiếc xe máy nói trên để sử dụng. Theo Kết luận định giá trị giá một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius; màu xám; Biển kiểm soát 72K1-615.64 là: 11.000.000đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 20/01/2022, Nguyễn Thanh B trộm xe nhãn hiệu Yamaha Sirius; màu đỏ đen; Biển kiểm soát 43F1-352.10 của chị Phạm Thị Thu H tại Khu chung cư Phước Lý, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Sau khi trộm thì B chạy xe đến xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam để bán lại cho Nguyễn Đình T với giá 3.000.000đồng. Quá trình bán xe, B cũng nói với T là nguồn gốc xe máy nói trên là do B trộm cắp mà có. Bản thân T biết rõ là xe trộm cắp nhưng do thấy giá rẻ nên T vẫn đồng ý mua để sử dụng. Sau khi mua về, T đã tháo biển kiểm soát của xe máy nói trên ra và lắp Biển kiểm soát 92N5-1601 vào để sử dụng nhằm tránh bị phát hiện. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên của mình. Theo Kết luận định giá trị giá một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius; màu đỏ đen; Biển kiểm soát 43F1-352.10 là: 9.000.000đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 19 giờ ngày 30/01/2022, Nguyễn Thanh B trộm xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius; màu đỏ đen; Biển kiểm soát 43F1-153.07 do ông Đinh Văn T tại khu vực hầm để xe máy Khu chung cư Bệnh viện Ung Bướu, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Sau khi trộm, B chạy xe đến xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam để bán lại cho anh Nguyễn Phi T là bạn của B với giá 6.000.000 đồng. Do lúc trộm xe máy nói trên thì trong xe có sẵn giấy tờ xe nên B đã nói với anh T là xe máy này là do B mua lại để sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên, giờ do cần tiền gấp nên bán rẻ lại, anh T nghe vậy kiểm tra thấy đầy đủ giấy tờ xe nên tin tưởng là xe của B vì có giấy tờ xe nên anh T đã đồng ý mua lại xe máy nói trên để sử dụng chứ anh T không biết đó là xe do B trộm cắp mà có. Sau khi biết được xe đó là xe trộm cắp thì anh T đã mang xe lên giao nộp cho Cơ quan Công an cùng với giấy tờ xe. Theo Kết luận định giá trị giá một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius; màu đỏ đen; Biển kiểm soát 43F1-153.07 là: 10.000.000đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Thanh B đã chiếm đoạt là 42.600.000đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2022/HS-ST ngày 20/7/2022 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc C phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS
Xử phạt: Trần Quốc C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh B, Nguyễn Đình T, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25/7/2022, bị cáo Trần Quốc C có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
+Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C trong hạn luật định, nên đảm bảo hợp lệ.
+Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2022/HS-ST ngày 20/7/2022 của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Quốc C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt 09 (chín) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nhận thức được rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật; đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn; có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 355, Điều 357 BLTTHS; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C; Sửa bản án sơ thẩm; Giữ nguyên mức án 9 tháng tù nhưng chuyển cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Quốc C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ tháng 01 và tháng 02 năm 2022, tại khu vực phường H, phường H (quận L) và phường H (quận C), lợi dụng sự sở hở của các chủ sở hữu, Nguyễn Thanh B đã thực hiện 04 vụ trộm cắp xe mô tô, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 42.600.000đồng. Ngày 18/01/2022, sau khi trộm cắp được xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius; màu xám; Biển kiểm soát 72K1-615.64 của chị Lê Thị Hoài T, Nguyễn Thanh B đã tháo biển số xe nói trên ra và thay vào biển số xe 92E1-007.14 mà B đã nhặt được trước đó, rồi tiếp tục di chuyển xe mô tô về xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam bán lại cho Trần Quốc C với giá 3.000.000 đồng. Quá trình giao dịch mua bán, Nguyễn Thanh B đã nói với C nguồn gốc xe máy này là do B trộm cắp mà có. Bản thân C cũng biết rõ đó là xe do B trộm cắp mà có nhưng thấy B bán xe giá rẻ nên C vẫn đồng ý mua chiếc xe máy nói trên để sử dụng. Theo Kết luận định giá trị giá 01 xe mô tô này là 11.000.000đồng.
Với hành vi trên, Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng xét xử bị cáo Trần Quốc C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác trộm cắp mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, vai trò phạm tội của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng mà bị cáo được hưởng theo quy định pháp luật, xử phạt bị cáo mức án 09 (chín) tháng tù là tương xứng. Tuy nhiên, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nhận thức rõ ràng hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, là vi phạm pháp luật nên đã có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Gia đình làm nông, có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính, là người trực tiếp chăm sóc mẹ già, hai con còn nhỏ. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm s khoản1; khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, HĐXX thống nhất quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS và Điều 65 BLHS; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên mức án của Bản án sơ thẩm nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do chấp nhận kháng cáo, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc C; Sửa một phần Bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc C 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Tuyên giao bị cáo về Uỷ ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Toà án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Quốc C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Vụ giám đốc kiểm tra 1; - VKSND quận Liên Chiểu; - Công an quận Liên Chiểu; - Phòng HSNV- Công an thành phố; - TAND quận Liên Chiểu; - THA DS quận Liên Chiểu; - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng; - Bị cáo; - Lưu: HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký và đóng dấu Dương Thị Hồng Minh |