vanban.org

Bản án 103/2022/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Đức V.

[2] Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức Vinh, sinh ngày 10/01/2006 và cháu Nguyễn Đức Bảo, sinh ngày 24/08/2013 (hiện nay các cháu đang do chị Y chăm sóc nuôi dưỡng). Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y. Không ai được ngăn cản quyền thăm no… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yến-Việt"
  • Tòa quyết gì? [1] Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Đức V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 07 - 2022.
V/v ly hôn giữa chị Y và anh V

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Khang, bà Dương Thị Vui.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Trình – Thư ký Toà án nhân dân huyện N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên toà: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 07 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2022/TLST- HNGĐ ngày 07/6/2022 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

55/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Y; sinh năm 1988, địa chỉ: Xóm 1, Quần Liêu, xã Nghĩa Sơn, huyện N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Nguyễn Đức V; sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm 1, Quần Liêu, xã Nghĩa Sơn, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt chị Y, vắng mặt anh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Y thể hiện: Chị và anh Nguyễn Đức V đăng ký kết hôn vào năm 2005 đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Sơn, huyện N, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính cách thường xuyên cãi vã. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện N giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đức V. Về con chung giữa chị và anh V có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Đức Vinh, sinh ngày 10/01/2006 và cháu Nguyễn Đức Bảo, sinh ngày 24/08/2013. Hiện nay các cháu đang ở với chị Y. Sau khi ly hôn chị Trần Thị Y đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Đức V phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí chị Y nhận nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Đức V nộp bản tự khai thể hiện về thời gian và điều kiện kết hôn phù hợp với những điều chị Y đã trình bày tại Tòa án. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống có mâu thuẫn nguyên nhân là do không hợp tính cách, thường xuyên cãi vã. Nay chị Y có đơn xin ly hôn với anh thì anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên cũng nhất trí ly hôn. Về con chung: Anh V xác định vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Đức Vinh, sinh ngày 10/01/2006 và cháu Nguyễn Đức Bảo, sinh ngày 24/08/2013, hiện nay các cháu đang ở với mẹ. Anh đề nghị sau khi ly hôn việc các cháu ở với ai do các cháu tự quyết định. Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập chứng cứ, tài liệu xây dựng hồ sơ cũng như diễn biến phiên tòa Tòa án nhân dân huyện N đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát có quan điểm như sau: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử ly hôn giữa chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Đức V. Giao con chung là cháu Nguyễn Đức Vinh, sinh ngày 10/01/2006 và cháu Nguyễn Đức Bảo, sinh ngày 24/08/2013 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị tuyên án phí với chị Y theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đức V đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại xã Nghĩa Sơn, huyện N, tỉnh Nam Định. Chị Trần Thị Y có đơn xin ly hôn anh Nguyễn Đức V và Tòa án nhân dân huyện N thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa anh V vắng mặt nhưng anh V đã có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Đức V vào năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nghĩa Sơn là hôn nhân tự do, tiến bộ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Đức V phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Nay chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện N giải quyết vợ chồng được ly hôn. Anh V xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên cũng nhất trí ly hôn. Vì vậy việc ly hôn giữa chị Y và anh V là thuận tình ly hôn.

Về con chung: Chị Y và anh V có 02 (hai) con chung là cháu Nguyễn Đức Vinh, sinh ngày 10/01/2006 và cháu Nguyễn Đức Bảo, sinh ngày 24/08/2013. Hiện nay chị Y đang trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu. Xét thấy từ sau khi anh V, chị Y sống ly thân thì việc nuôi dưỡng con chung của chị Y đảm bảo sự phát triển tốt cho các cháu. Bản thân hai cháu cũng có nguyện vọng xin ở với mẹ. Chị Y hiện nay là công nhân Công ty may Sông Hồng, có thu nhập thường xuyên, ổn định và nơi cư trú rõ ràng. Xét nguyện vọng của chị Y đề nghị được nuôi cả hai con chung và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp nên được chấp nhận.

Về tài sản chung: Chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Đức V không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Y phải nộp án phí dân dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[1] Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Y và anh Nguyễn Đức V.

[2] Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đức Vinh, sinh ngày 10/01/2006 và cháu Nguyễn Đức Bảo, sinh ngày 24/08/2013 (hiện nay các cháu đang do chị Y chăm sóc nuôi dưỡng). Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

[3] Về án phí: Chị Trần Thị Y phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Y đã nộp theo biên lai số 0000729 ngày 07/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, chị Y đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ