vanban.org

Bản án 103/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Lê Công S.

Về con chung: Bà Đ xác định bà và ông S không có con chung, nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ không yêu cầu giải quyết, nên không xét đến. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ- Lê Công S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Lê Công S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Bản án số: 103/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 9 - 2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thủy.

Bà Nguyễn Thị Di.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyến – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103B/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 65A/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1985. (có mặt)

Địa chỉ: tổ 7, ấp L, xã P, huyện Y, tỉnh B.

2. Bị đơn: Ông Lê Công S, sinh năm: 1984. (vắng mặt).

Địa chỉ: tổ 7, ấp L, xã P, huyện Y, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Lê Công S chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y. Bà Đ và ông S tự nguyện chung sống không bị ai ép buộc, sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu sau đó thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn hợp nhau, thường xuyên cãi vã các vấn đề liên quan đến cả tình cảm và kinh tế gia đình, mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, hiện nay bà Đ và ông S đã sống ly thân không còn quan hệ với nhau về tình cảm cũng như về kinh tế. Nay bà Đ không còn tình cảm với ông S nữa nên yêu cầu ly hôn với ông S.

- Về con chung: Bà Đ xác định bà và ông S không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lê Công S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai các thủ tục tố tụng đối với ông Lê Công S tại nơi ông S có đăng ký hộ khẩu thường trú là: Tổ 7, ấp L, xã P, huyện Y, tỉnh B, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y và Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu về quá trình giải quyết vụ án: Về tố tụng: Xác định việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Thẩm phán, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX và nguyên đơn tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng không chấp hành. Về nội dung vụ án đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; Về con chung: không có nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ly hôn với ông Lê Công S, ông S có hộ khẩu thường trú tại huyện Long Điền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông S được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt ông S theo Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Lê Công S tự nguyện chung sống vào năm 2018, có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân giữa bà Đ và ông S là hợp pháp. Theo bà Đ, sau khi cưới vợ chồng chung hạnh phúc được thời gian đầu hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không có sự đồng cảm, chia sẻ với nhau dẫn đến dạn nứt về tình cảm, thường xuyên cãi vã nhau, mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhưng không thành, hiện nay bà Đ và ông S đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm cũng như về kinh tế. Hội đồng xét xử thấy rằng, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng nhau, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, trong quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã mời bà Đ và ông S làm việc để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông S không có mặt, điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà Đ và ông S là có thật và trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương tôn trọng nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có cơ sở để cho bà Đ ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà Đ xác định bà và ông S không có con chung, nên không xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Đ phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 51, 56 và 57 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Lê Công S.

2. Về con chung: Bà Đ xác định bà và ông S không có con chung, nên không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ không yêu cầu giải quyết, nên không xét đến.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Đ đã nộp theo biên lai thu số 0008905 ngày 17/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà Đ đã nộp đủ. Ông Lê Công S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/9/2022), các đương sự được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn này được tính từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ