vanban.org

Bản án 103/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm

2014; các Đi u 144, 147, 273 Bộ lu t T tụng dân s năm 2015; đi m a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 103/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 13/5/2022
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Lâm Sơn;

2. Bà Phan Thị Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 218/2022/TLST-

HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2022 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly

hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

162/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022, Quyết định hoãn phiên

tòa số 154/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1971; địa chỉ: số 77, tổ 3, ấp L, xã L,

huyện C, tỉnh An Giang.; vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C,

tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày, do quen biết, bà T và ông P kết hôn vào

năm 1993, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An

Giang vào ngày 24/9/2003. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 03 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1994, Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1997, Nguyễn Thị Mỹ Nh, sinh ngày 09/01/2008. Hiện tại, con chung tên Ngọc, Linh đã thành niên, con chung tên Nh đang được bà T nuôi dưỡng.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn,

nguyên nhân là do ông P có mối quan hệ với người phụ nữ khác, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018 cho đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông

P; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01 ngày 24/9/2003 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Tấn P và bà Lê Thị T (bản sao); giấy khai sinh số 23, ngày 14/02/2008 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho Nguyễn Thị Mỹ Nh (bản sao); giấy khai sinh số 42, ngày 27/02/1995 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho Nguyễn Thị Mỹ N (bản sao); giấy khai sinh số 110, ngày 14/4/1997 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho Nguyễn Thị Mỹ L (bản sao).

- Bị đơn ông Nguyễn Tấn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn

vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ yêu cầu như đã cung cấp

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà T và ông P kết hôn, có

đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do ông P có người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc bà T và các con chung và không còn sống chung từ năm 2018 đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông P. Bà

T, ông P không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm. Do đó, đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông P theo Điều 56 Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà T, giao con chung cho

bà T chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi dạy

con chung nên không giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật

Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông P; bà T

được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; ông P không phải cấp dưỡng

nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn P. Đồng thời,

ông P cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và

gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo

quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều

39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Tấn P đã được

triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến

hành xét xử vắng mặt bà T, ông P theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1

Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Bà T và ông P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của

pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P là hợp pháp, được pháp luật

thừa nhận và bảo vệ.

Bà T xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu

thuẫn, cãi vả do ông P có người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc cho vợ

con và không còn sống chung từ năm 2018 đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà T và ông

P thường xuyên cãi vả và không còn sống chung từ năm 2018 đến nay. Vợ

chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp

lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông P nhưng ông P không có ý kiến phản đối yêu

cầu ly hôn của bà T. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà T, ông P là

trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt

được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông P

theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà T xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng

có sinh 03 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1994, Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1997, Nguyễn Thị Mỹ Nh, sinh ngày 09/01/2008. Hiện tại, con chung tên Ngọc, Linh đã thành niên, con chung tên Như đang được bà T nuôi dưỡng. Bà T yêu cầu được nuôi con chung tên Như, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, con chung tên Ngọc, Linh đã thành niên; con chung tên Như

đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu Như có nguyện vọng muốn sống với mẹ (Tâm) khi cha mẹ ly hôn, do đó Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi

con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án

xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ

thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm

2014; các Đi u 144, 147, 273 Bộ lu t T tụng dân s năm 2015; đi m a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.

1. Về hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01 ngày 24/9/2003 do Ủy ban

nhân dân xã L, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Tấn P và bà Lê Thị T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm

1994, Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1997, Nguyễn Thị Mỹ Nh, sinh ngày 09/01/2008. Hiện tại, con chung tên Ngọc, Linh đã thành niên. Bà Lê Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Mỹ Nh, sinh ngày 09/01/2008. Ông Nguyễn Tấn P không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Lê Thị T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở

ông Nguyễn Tấn P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc

cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm:

Bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn)

đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã

nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010263 do Chi cục Thi

hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 22 tháng 02 năm 2022;

bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Tấn P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Thời hạn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử

phúc thẩm của bà Lê Thị T, ông Nguyễn Tấn P được tính là 15 ngày kể từ ngày

bản án được giao hoặc được niêm yết.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Đi u 2

Lu t Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành

án dân s có quy n thoả thu n thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, t

nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u 6,

7 và 9 Lu t thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo quy

định tại Đi u 30 Lu t thi hành án dân s .

Cỡ chữ