- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ văn Ban- Tàng trữ TPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng : Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 32…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 103/2021/HS-ST Ngày 28/12/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân :
Bà Nguyễn Thị Vân, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa;
Ông Trần Ngọc Khang, cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa
- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 104/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo : VŨ VĂN B (Tên gọi khác : Q), sinh năm 1985, sinh quán và nơi cư trú : Thôn P, xã V, huyện U, thành phố Hà Nội; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp : Lao động tự do; trình độ học vấn : 6/12; con ông : Vũ Văn B (Đã chết); con bà : Bùi Thị G, sinh năm 1934; vợ : Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; con : Có 02 con (Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2001); tiền án, tiền sự : Không; bị cáo bị bắt quả tang bị tạm giữ từ ngày 07/10/2021 đến ngày 16/10/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp : Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
1. Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :
1.1 Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; trú tại : Thôn P, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, có mặt;
1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tài chính Toyota Việt Nam (TFSVN); sau đây được gọi tắt là Công ty tài chính Toyota; trụ sở : Phòng 04&05 tầng 12 SaigonCentre, tòa 2, số 67 đường Lê Lợi, phường Bến Nghe, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật : Ông Ishikwa Normasa – Tổng giám đốc ủy quyền cho ông Đỗ Bích Hương, chức danh : Giám đốc phụ trách kinh doanh (Theo giấy ủy quyền số 29/UQ-CEO.2021 ngày 26/3/2021, theo phạm vi ủy quyền ông Hương được ủy quyền lại) ông Hương đã ủy quyền lại cho ông Nguyễn Hữu Toản, chức danh : Giám sát phòng thu nợ (Theo giấy ủy quyền ngày 19/10/2021); trước khi mở phiên tòa ông ông Ishikwa Normasa có văn bản ủy quyền ngày 01/12/2021 cho ông Nguyễn Hữu Toản tham gia tố tụng tại tòa; ông Toản có mặt.
2. Ngƣời làm chứng : Anh Tạ Đức H, sinh năm 1976; trú tại : Thôn V, xã L, huyện Ứng Hoà, TP Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Ngày 06/10/2021, thông qua phần mềm Facebook, Vũ Văn B thấy Nick Facebook “Trà Đá” có đăng bài bán ma túy kẹo và ke. B liên hệ với chủ Nick này qua phần mềm Messenger B cho địa chỉ của mình và hỏi mua của người này 1.000.000 đồng tiền ma túy kẹo, 2.500.000 đồng tiền ma túy ke, người này đồng ý. Đến khoảng 22 giờ ngày 06/10/2021, chủ Nick Facebook “Trà Đá” báo B đến cột mốc đầu tiên gần nghĩa trang thôn Phù Yên, xã Viên An, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội để lấy ma túy, lấy xong thì để tiền mua ma túy lại chỗ đã lấy. Sau đó B đi bộ đến điểm hẹn lấy được ma túy rồi để lại số tiền 3.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy B cất tại túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng gần 01 giờ ngày 07/10/2021, B điều khiển xe ô tô đi xuống thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, khi đi đến thôn Bặt Trung, xã Liên Bạt, Ban dừng xe lấy ma túy trong túi quần ra để tại hốc phanh tay cạnh ghế lái xe ô tô rồi xuống xe đi vệ sinh thì bị Tổ công tác Công an xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa phối hợp cùng Đại đội 3 -Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Cảnh sát cơ động - Công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên Quốc lộ 21B thấy có nghi vấn nên đến kiểm tra. Tại chỗ B tự nguyện lấy ở xe ô tô ra 02 túi ni lông gồm: 01 túi ni lông màu trắng kích thước 05x08cm bên trong chứa 06 túi ni lông màu trắng đều có kích thước tương đương nhau 02x03cm, bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa 07 viên nén hình ngũ giác màu xanh dương giao nộp cho lực lượng Công an và khai báo đó là ma túy của Ban mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đưa B về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Văn B không phát hiện thu giữ vật chứng gì.
Vật chứng thu giữ:
- 01 túi ni lông màu trắng kích thước 05x08cm bên trong chứa 06 túi ni lông màu trắng đều có kích thước tương đương nhau 02x03cm, bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng;
- 01 túi ni lông màu trắng bên trong chứa 07 viên nén hình ngũ giác màu xanh dương;
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát: 30G - 435.44, số máy 2NRX59444, số khung: RL4B28F33L5090885;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số Imel 354843091616669, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số Imel 353269077158446.
Ngày 07/10/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định số 311 đối với vật chứng thu giữ của Vũ Văn Ban. Tại bản kết luận giám định số 7431/KLGĐ-PC09 ngày 15/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “ Tinh thể màu trắng bên trong 06 túi ni lông đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 7,881 gam; 07 viên nén hình ngũ giác màu xanh dương đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 3,028 gam”.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 98/CT - VKS ngày 29/11/2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Vũ Văn B về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà :
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử cho vợ chồng bị cáo xin lại xe ô tô (Vì xe là tài sản chung vợ chồng) để có điều kiện thanh toán trả Công ty tài chính Toyota và trả lại cho vợ bị cáo là Nguyễn Thị Thuận;
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh, nội dung vụ án cũng như điều luật, khoản áp dụng như nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau :
- Về tội danh và mức hình phạt : Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự : Tuyên bố bị cáo Vũ Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Vũ Văn Ban từ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm gữ từ ngày 07/10/2021 đến ngày 16/10/202; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
- Về xử lý vật chứng : Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại; tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số Imel 353269077158446 thu giữ của bị cáo. Trả lại bị cáo : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số Imel 354843091616669; trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát: 30G - 435.44, số máy 2NRX59444, số khung: RL4B28F33L5090885 cho vợ chồng bị cáo, do bị cáo phải đi cải tạo nên vợ bị cáo nhận thay (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 08/12/2021 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý);
- Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Vũ Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bầy :
- Chị Nguyễn Thị T trình bầy xe ô tô cơ quan điều tra thu giữ là tài sản của vợ chồng chị, chị phải đi vay để mua xe chạy tacxi làm ăn, khi mua xe còn vay của Công ty tài chính Toyota chưa trả được nên chị xin xe để có điều kiện làm ăn trả nợ;
- Anh Nguyễn Hữu T trình bầy : Bị cáo Vũ Văn Ban và vợ là Nguyễn Thị T có ký hợp đồng tín dụng với Công ty toyota để vay số tiền 315.000.000đồng để mua xe ô tô trên và thế chấp xe cùng giấy tờ xe ở công ty nên anh đề nghị nếu được thì Hội đồng xét xử trả lại xe cho Công ty Toyota, nếu không thì vợ chồng bị cáo phải có trách nhiệm trả nợ Công ty theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về tố tụng : Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên huyện Ứng Hòa đều đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo : Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã qui kết. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ được, bản kết luận giám định, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận : Ngày 07/10/2021, Vũ Văn Ban đã tìm mua ma túy với mục đích để sử dụng. Khi B đi đến thôn Bặt Trung, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành Hà Nội thì bị Công an xã Liên Bạt phối hợp cùng Đại đội 3 -Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Cảnh sát cơ động - Công an thành phố Hà Nội nghi vấn kiểm tra Ban đã tự nguyện giao nộp. Kết quả giám định : 01 gói nilông là có chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng: 7,881 gam; 07 viên nén hình ngũ giác màu xanh đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 3,028 gam”.
Bằng hành vi mua, cất giữ trái phép chất ma túy nêu trên mục đích để sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì tổng khối lượng 02 chất ma túy thu được của B như sau: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA so với mức tối thiểu đối với MDMA được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là 60,56%. (3,028 gam so với 05 gam).Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine được quy định tại điểm l Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là 39,405% (7,881 gam so với 20 gam). Như vậy tỷ lệ phần trăm của cả 02 chất ma túy là : 39,405% + 60,560% = 99,965% (Thuộc trường hợp dưới 100%). Như vậy, đối chiếu với quy định hành vi nêu trên của Vũ Văn B đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo với hành vi và điều, khoản, tội danh trong cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác và làm gia tăng số người nghiện trên địa bàn. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo; phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung : Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là người nghiện chất ma tuý nên Toà không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về nguồn gốc số ma túy trên : Vũ Văn B khai mua của người có tài khoản Facebook có tên là “Trà Đá” tại khu vực nghĩa trang thôn Phù Yên, xã Viên An, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Ban không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, việc mua bán ma túy không có ai biết. Do Facebook không có Văn phòng đại diện tại Việt Nam. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xác minh làm rõ để xử lý trong vụ án.
Về xử lý vật chứng : Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự :
7.1 Số ma túy sau khi giám định niêm phong gửi trả lại đây là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu huỷ;
7.2 Đối với 02 điện thoại di động :
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số Imel 354843091616669, bị cáo Ban đã dùng điện thoại này để giao dịch mua ma túy nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước;
- Trả lại bị cáo : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số Imel 353269077158446, Iphone màu trắng, số Imel 354843091616669;
7.3 Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát: 30G - 435.44, số máy 2NRX59444, số khung: RL4B28F33L5090885 : Nguồn gốc chiếc xe này là bị cáo mua xe của Công ty trách nhiệm hữu hạn Toyota, sau đó vợ chồng bị cáo đã ký hợp đồng tín dụng với Công ty tài chính Toyota để vay tiền mua xe và thế thấp xe và giấy tờ xe cho Công ty Toyota nên xác định xe là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, xe không chuyên dùng vào việc phạm tội, vợ chồng bị cáo xin lại xe để trả lại, thanh toán nghĩa vụ cho Công ty tài chính Toyota, mặt khác đại diện công ty tài chính Toyota cũng đề nghị trả lại xe cho Công ty hoặc cho vợ chồng bị cáo để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của Công ty Toyota nên trả lại cho vợ chồng bị cáo, do bị cáo đi cải tạo nên giao lại cho chị Nguyễn Thị T đại diện nhận lại. Đại diện theo ủy quyền của công ty toyota xin lại nhưng xem xét thấy đây là trách nhiệm dân sự liên quan đến hợp đồng tín dụng và thế chấp xe và giấy tờ xe. Vì vậy nếu sau này có tranh chấp thì dành quyền khởi kiện vụ án dân sự cho Công ty Toyota bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí, quyền kháng cáo : Căn cứ vào các Điều 135,136, 331, 333c của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng : Điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1.Tuyên bố bị cáo : Vũ Văn B (Tên gọi khác : Q) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt : Xử phạt Vũ Văn B (Tức Q) 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/10/2021 đến ngày 16/10/2021.
3. Về xử lý vật chứng :
3.1 Tịch thu tiêu huỷ số ma túy (Là MDMA và Ketamine) sau giám định gửi lại, đựng trong 02 (Hai) phong bì niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện Ứng Hoà, mặt bên có chữ kỹ của giám định viên Nguyễn Hồng Quân, cán bộ Tưởng Văn Cường và bị cáo Vũ Văn B, dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong;
3.2 Tịch thu, phát mại, sung vào ngân sách Nhà nước 0 điện thoại di động 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, số Imel 353269077158446 thu giữ của bị cáo;
3.3 Trả lại bị cáo Vũ Văn B : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, số Imel 354843091616669;
3.4 Trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát: 30G - 435.44, số máy 2NRX59444, số khung: RL4B28F33L5090885 cho bị cáo Vũ Văn B và chị Nguyễn Thị T. Chị T đại diện nhận lại xe sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Dành quyền khởi kiện cho Công ty tài chính Toyota về nội dung liên quan đến Hợp đồng tín dụng hay thế chấp xe ô tố và giấy tờ xe… giữa Công ty tài chính Toyota với bị cáo Vũ Văn Ban và chị Nguyễn Thị T bằng vụ kiện dân sự khác (Nếu có tranh chấp).
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày18/12/2021 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý).
4. Về án phí : Buộc bị cáo Vũ Văn B phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo : Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình)./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành Trung |