vanban.org

Bản án 103/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Đàm Văn T 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 12/5/2021. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Các điểm a, b, c khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đàm Văn T phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNG KHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2021/HS-ST
Ngày 26-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Mã Thị Huệ.

Bà Nguyễn Thị Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 101/2021/TLST-HS ngày 05/10/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2021/QĐXXST-HS ngày 13/10/2021 đối với bị cáo:

Đàm Văn T, tên gọi khác: không;

Sinh ngày 18 tháng 02 năm 199x tại xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm P, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn 9/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đàm Văn T1 và bà Đàm Thị Tr; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ ngày 12/5/2021 đến nay. Có mặt.

Người làm chứng:

- Nông Minh L, sinh năm 199x.

- Nông Văn Ng, sinh năm 199x.

Cùng nơi cư trú: Xóm B, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

- Đàm Văn S, sinh năm 199x. Nơi cư trú: Xóm P, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng

- Nông Văn L, sinh năm 199x. Nơi cư trú: Xóm H, xã Tr, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Tất cả những người làm chứng vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 12/5/2021, Tổ công tác Công an huyện Trùng Khánh phối hợp với Công an xã Quang Trung làm nhiệm vụ tại xóm P, xã Q, huyện T phát hiện bắt quả tang Đàm Văn T, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 lọ nhựa bên trong có 06 gói nhỏ bằng giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng; 01 ví da màu nâu; 02 dao lam hiệu Croma đã qua sử dụng; 32 mảnh giấy bạc màu vàng; 4.842.000 đồng (Bốn triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng. Đấu tranh tại chỗ, T khai 06 gói chất bột màu trắng là ma túy của T mua về sử dụng và bán lẻ kiếm lời.

Cùng ngày 12/5/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành cân số chất bột màu trắng thu giữ của Đàm Văn T có khối lượng 0,29gam và trích lấy mẫu gửi trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 168/GĐMT ngày 25/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Quá trình điều tra chứng minh được: Đàm Văn T sử dụng ma túy từ năm 2016 và băt đầu bán ma túy từ ngày 06/3/2021 âm lịch. Hình thức giao dịch là các đối tượng đến gặp đưa tiền thì T đưa ma túy hoặc gọi điện thoại trước, T sẽ hẹn địa điểm giao dịch mua bán ma túy. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là ngày 10/5/2021, T mua với một người không quen biết ở xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Sau đó T mang về nhà chia thành các gói nhỏ để sử dụng và bán. Trước khi bị bắt, T được bán ma túy cho nhiều người nhưng chỉ nhớ những người có tên sau: Nông Minh L, 01 lần với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng); Nông Văn Ng, 01 lần với số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng); Đàm Văn S, 01 lần với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng); Nông Văn L, 01 lần với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); Đàm Văn H 01 lần với giá 100.000đ.

Cơ quan điều tra đã lấy lời khai những người làm chứng đều phù hợp với lời khai của Đàm Văn Tuyên về số lần, số tiền mua, hình thức giao dịch.

Về tài sản tạm giữ xác định được: 4.842.000 đồng có 900.000đ do bán ma túy có được, còn lại do T làm thuê bốc vác mà có; 02 dao lam hiệu Croma đã qua sử dụng; 32 mảnh giấy bạc màu vàng T dùng để chia gói ma túy; 01 điện thoại di động hiệu OPPO dùng để liên lạc hằng ngày và trao đổi mua bán ma túy; 01 ví da màu nâu bị cáo dùng để đựng tiền.

Tại bản Cáo trạng số: 103/CT-VKSTK ngày 04/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Đàm Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai: Bản thân sử dụng ma túy từ năm 2016, để có ma túy, bị cáo thường xuyên mua ở thị trấn Trùng Khánh và các mốc biên giới để sử dụng và bán lẻ. Ngày 10/5/2021, T mua với một người không quen biết ở xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Sau đó mang về nhà chia thành các gói nhỏ để sử dụng và bán. Trước khi bị bắt, bị cáo được bán ma túy cho nhiều người nhưng chỉ nhớ những người có tên sau: Nông Minh L, Nông Văn Ng, Đàm Văn S, và Nông Văn L và Đàm Văn H. Mỗi lần bán với giá 100.000đ/gói, hình thức giao dịch là những người nghiện trực tiếp đến nhà bị cáo hoặc liên lạc trước qua điện thoại hẹn địa điểm để mua ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đàm Văn T từ 07 đến 08 năm tù. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ, dao lam và 32 mảnh giấy bạc; Tịch thu số tiền 900.000đ sung công quỹ Nhà nước; Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo số tiền 3.942.000đ và 01 ví da. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần, số tiền mua bán ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Do sử dụng ma túy nên ngày 10/5/2021, T đến xã Trung Phúc, huyện Trùng Khánh mua ma túy với một người không quen biết với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Sau đó mang về nhà chia thành các gói nhỏ để sử dụng và bán sau đó bị bắt hồi 11 giờ 15 phút ngày 12/5/2021 cùng tang vật là 0,29g ma túy loại Heroine. Trước khi bị bắt, bị cáo được bán ma túy cho nhiều người nhưng chỉ nhớ những người có tên sau: Nông Minh L, Nông Văn Ng, Đàm Văn S, Đàm Văn H và Nông Văn L. Mỗi lần bán với giá 100.000đ/gói, hình thức giao dịch là những người nghiện trực tiếp đến nhà bị cáo hoặc liên lạc trước qua điện thoại hẹn địa điểm để mua ma túy.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho tệ nạn mua bán trái phép ma túy ngày càng gia tăng hiện nay, gây mất trật tự trị an tại địa phương và tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm suy giảm giống nòi và là nguyên nhân dẫn đến tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo ý thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là phạm pháp nhưng vì lợi nhuận cao nên vẫn bất chấp pháp luật để thực hiện. Bị cáo bán ma túy nhiều lần, nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân: Bị cáo sử dụng ma túy, là chất Nhà nước ta nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, sử dụng dưới mọi hình thức nên bị cáo là người có nhân thân xấu. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Đối với người đã bán ma túy cho T, do không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Số Heroine thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; số Heroine gửi giám định do không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét việc xử lý; 3.942.000đ và 01 ví da không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo; 900.000đ do T bán ma túy có được nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 02 dao lam hiệu Croma đã qua sử dụng, 32 mảnh giấy bạc màu vàng là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu OPPO dùng để liên lạc hằng ngày và trao đổi mua bán ma túy nên tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước;

. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt Đàm Văn T 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 12/5/2021.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Các điểm a, b, c khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy gồm:

+ 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng (lọ nhựa, 06 mảnh giấy bạc màu vàng và chất bột màu trắng) vụ án Đàm Văn T bắt ngày 12/5/2021”;

+ 01 phong bì niêm phong ghi “02 dao lam, 32 mảnh giấy bạc màu vàng đồng, thu giữ Đàm Văn T ngày 12/5/2021”;

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 900.000đ.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 3.942.000đ và 01 ví da đã qua sử dụng.

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, theo biên bản ngày 25/10/2021.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đàm Văn T phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ