- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2021/HS-ST Ngày 26-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi
- Các hội thẩm nhân dân: Ông: Chu Quốc Đạt
Ông: Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 26/11/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2021; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2021/QĐXXST-HS ngày 01/11/2021 đối với bị cáo:
Ngô Văn Sơn, sinh năm 1967;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 7/10; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông: Ngô Văn H (đã chết); con bà: Chu Thị L (đã chết). Gia đình có 06 chị em bản thân là thứ tư. Vợ: Đoàn Thị X, sinh năm 1972 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 1991.
- Nhân thân:
Bản án số 52/HSST ngày 29/9/1992, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản của công dân.
Bản án số 43/HSST ngày 22/9/1993, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Tổng hợp với bản án số 52 ngày 29/9/1992, buộc phải chấp hành hình phạt 12 tháng.
Bản án số 26/HSST ngày 14/3/1996, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa.
Bản án số 106/HSST ngày 11/6/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản của công dân.
Bản án số 50/HSST ngày 20/7/1999, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”.
Bản án số 31/HSST ngày 07/3/2006, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
- Tiền án:
Bản án số 60/2008/HS-ST ngày 15/5/2008, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (tái phạm nguy hiểm). Chấp hành xong phần dân sự ngày 06/9/2013, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/6/2014.
Bản án số 120/2015/HS-ST ngày 25/9/2015, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Trị giá tài sản trộm cắp là 2.400.000đ; tái phạm nguy hiểm). Chấp hành xong án phí ngày 11/5/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2017.
Bản án số 30/2019/HS-ST ngày 10/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Trị giá tài sản trộm cắp là 8.847.000đ; tái phạm nguy hiểm). Chấp hành xong án phí ngày 22/7/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2021.
- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2021. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bản cáo trạng số: 91/CT-VKS ngày 22/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố Ngô Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 50 phút ngày 30/8/2021, tại địa phận thôn N, xã Q, huyện Lạng Giang, Công an xã Q bắt quả tang Ngô Văn S, sinh năm 1967 ở thôn D, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu trắng bên trong có: 01 gói giấy một mặt màu trắng và một mặt màu vàng bên trong chứa 01 đoạn ống nhựa màu xanh lá cây; 01 gói giấy một mặt màu trắng và một mặt màu vàng bên trong chứa 01 đoạn ống nhựa màu hồng đậm; 01 gói giấy một mặt màu trắng và một mặt màu trắng bạc bên trong chứa 01 đoạn ống nhựa màu hồng đậm, 01 đoạn ống nhựa màu hồng nhạt, 01 đoạn ống nhựa màu cam. Tất cả các đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu và bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều chứa chất cục bột nghi là ma túy heroine, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”.
Ngày 31/8/2021, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Văn S nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại Bản kết luận giám định số 1366/KL-KTHS ngày 01/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong một phong bì có ký hiệu “QT” đã niêm phong gửi giám định:
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 03 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 gói giấy bạc, có một mặt màu trắng, một mặt màu trắng bạc là ma túy, có tổng khối lượng 0,111 gam, loại Heroine.
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, mỗi đoạn được đựng trong 01 gói giấy bạc, có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng là ma túy, có tổng khối lượng 0,093 gam, loại Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn S khai nhận: Bản thân S nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 30/8/2021, S đi nhờ xe của một người không quen biết từ nhà lên thị trấn K, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang để tìm mua ma túy sử dụng. Tại ngã tư thị trấn K, S gặp một người đàn ông không quen biết và mua của người này 200.000đ ma túy Heroine đựng trong 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu. Sau đó, S cầm ma túy vừa mua được sang khu vực vườn hoa thuộc ngã tư thị trấn K để chia nhỏ, rồi cho vào 05 đoạn ống nhựa hàn kín lại. S gói các đoạn ống nhựa chứa ma túy bằng giấy và giấy bạc rồi đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Khoảng 16 giờ cùng ngày, S gặp Nguyễn Văn Q, Sinh năm 1991 ở thôn L, xã X, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và rủ Q đi chơi, Q đồng ý, rồi cả hai cùng bắt xe ôm đi lên xã Q chơi. Khi đi đến đèn xanh, đèn đỏ thuộc thôn N, xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang thì cả hai xuống xe đi bộ khoảng 1km thì tổ công tác của Công an xã Q yêu cầu kiểm tra do thấy có biểu hiện nghi vấn. Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện tại túi quần phía trước bên trái S đang mặc có 05 đoạn ống nhựa được bọc trong một số gói giấy, nghi là ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời tiến hành niêm phong tang vật theo quy định và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho S: S khai không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với Nguyễn Văn Q: Q khai không biết việc S tàng trữ ma túy trong người nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên; người làm chứng đều có lời khai phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Bị cáo khẳng định việc bị cáo khai tại cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không hề bị ép buộc hay bị bức cung hoặc dùng nhục hình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang xác định lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; tang vật chứng thu giữ được, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Ngô Văn S từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội và buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát, mà xin hội đồng xét xử giảm phạt nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Lạng Giang và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
Nội dung vụ án: Ngô Văn S, sinh năm 1967; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã D, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang là đối tượng nghiện ma túy. Hồi 17 giờ 30 phút ngày 30/8/2021, tại địa phận thôn N, xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Ngô Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,204 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Tổ tuần tra địa bàn Công an xã Q, huyện Lạng Giang phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.
Lời khai thú nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 50 phút ngày 30/8/2021 của cơ quan Công an; kết luận giám định số 1366/KL-KTHS ngày 01/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang; phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội cũng như tang vật chứng thu giữ được. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến lĩnh vực quản lý nhà nước về ma túy. Do vậy cần xử lý đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo S là người có nhân thân xấu đã sáu lần phạm tội và đã được xóa án tích; Ba lần phạm tội chưa được xóa án tích; phạm tội lần này bị truy tố theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, như vậy ba tiền án trên là yếu cấu thành tội phạm, nên bị cáo phạm tội lần này ngoài tình tiết định khung hình phạt ra, thì không có tình tiết nào làm tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân từ thành phần con em người lao động, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, để bị cáo sớm có điều kiện trở về làm ăn lương thiện cùng với gia đình.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy, nên ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ nhà nước; song xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, vợ đã ly hôn, không có việc làm, không có tài sản riêng, nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về vật chứng: Đối với 0,171 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì dán kín ký hiệu “QT”, được niêm phong bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, có đóng dấu của Công an xã Q, huyện Lạng Giang, có chữ ký của Giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, chữ ký cùng họ tên của Ngô Văn S và những người tham gia. Đây là vật chứng của vụ án thuộc loại không được lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Ngô Văn S: S khai không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ, nên không đề cập xử lý. HĐXX xét thấy là phù hợp.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 292; 299; 326; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1/ Tuyên bố bị cáo Ngô Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Ngô Văn S 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/8/2021.
2/ Vật chứng: Áp dụng khoản 1 khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 0,171 gam ma túy Heroine hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong 01 phong bì dán kín ký hiệu “QT”, được niêm phong bằng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Giang, có đóng dấu của Công an xã Q, huyện Lạng Giang, có chữ ký của Giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, chữ ký cùng họ tên của Ngô Văn S và những người tham gia.
2/ Án phí: Áp dụng Điều 21; 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bị cáo Ngô Văn S phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Án xử sơ thẩm công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - Chi cục THADS huyện Lạng Giang; - Công an huyện Lạng Giang; - Trại tạm giam; - Bị cáo; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Thân Trọng Khôi |