vanban.org

Bản án 103/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Đg phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Dương Văn Đg 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2020. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Đg phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2020/HS-ST
Ngày 06 tháng 5 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trọng Tú

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 163/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2020/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Dương Văn Đg, sinh ngày 14/9/1985.

HKTT: Tổ 9, phường LN, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 10/12; NghÒ nghiÖp: Không. Con ông Dương Văn M, sinh năm 1960; Con bà Phú Thị H, sinh năm 1966. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; có vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1986, có 02 con chung. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh Thái Nguyên từ ngày 06/01/2020 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

1. Nguyễn Thế T, sinh năm 1957 (vắng mặt tại phiên tòa)

HKTT: Tổ 17, phường QH, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

2. Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1964 (vắng mặt tại phiên tòa)

HKTT: Tổ 25, phường QH, thành phố thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng:

Phan Văn Đ, sinh năm 1981 (vắng mặt tại phiên tòa)

HKTT: xóm QB, xã MH, huyện BC, tỉnh Thái Nguyên.

Người có quyền lợi liên quan

Nguyễn Thị N, sinh năm 1986 (vắng mặt tại phiên tòa)

ĐKHK: Tổ 33, phường MC, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 06/01/2020, Công an phường HS, thành phố TH nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1966, trú tại tổ D, phường HS, có 02 nam thanh niên có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên đã đến để kiểm tra. Tại đây, tổ công tác phát hiện 02 nam thanh niên là Dương Văn Đg và Phan Văn Đ. Dương Văn Đg khai vừa sử dụng ma túy xong và đang cất giấu ma túy trong người và tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên trái đang mặc ra 01 bao thuốc lá Thăng Long, trong bao thuốc lá chứa 01 gói giấy bạc màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai là ma túy Heroin. Kiểm tra người Đ không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đg. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 xe mô tô BKS 20B2-21x.xx.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cân toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của Dương Văn Đg có khối lượng là 0,198gam và lấy mẫu vật gửi giám định ký hiệu Đ.

Tại bản Kết luận giám định số 183/KL-KTHS ngày 14/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu Đ gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,198 gam.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu Đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, BKS 20B2-2x.xx, số khung RLHJA3911KY133xxx, số máy 5A39E-0989xxx. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 165/CT-VKSTPTN ngày 30/3/2020, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Dương Văn Đg về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhËn: Khoảng 13 giờ ngày 06/01/2020, Đg đang ở nhà thì Phan Văn Đ gọi điện thoại rủ đi bốc gỗ thuê. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Đg gặp Đ ở cổng Bệnh viện Gang Thép thì Đg rủ Đ đi mua ma túy về để sử dụng chung. Do Đ không có tiền nên Đg và Đ đã mang 01 điện thoại di động của Đg đi cắm được 200.000đ. Sau đó Đg và Đ đi bộ đến khu vực chợ Dốc Hanh để tìm mua ma túy. Tại đây Đg gặp và mua được 01 gói ma túy của 01 nam thanh niên tên L với giá 200.000đ. Đg cầm ma túy và điều khiển xe mô tô 20B2-21x.xx chở Đ đi đến nhà ông T để sử dụng ma túy nhưng không nói cho ông T biết. Tại nhà ông T, Đg bỏ một phần ma túy ra để sử dụng bằng hình thức chích, phần còn lại Đng để ở trên bàn. Khi Công an phường HS đến kiểm tra thì Đg cất chỗ ma túy vào trong bao thuốc lá rồi cho vào túi áo khoác bên trái đang mặc và bị Công an phường HS phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Kết thúc thẩm vấn, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn Đg phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Văn Đg từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS xử lý vật chứng: tiêu hủy gói niêm phong ký hiệu Đ và trả xe mô tô 20B2-21x.xx cho chị Nguyễn Thị N. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử trả xe mô tô 20B2-21x.xx cho vợ bị cáo.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của Phan Văn Đ, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Hồi 14 giờ 15 phút ngày 06/01/2020, tại khu vực tổ D, phường HS, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên, Dương Văn Đg có hành vi cất giữ trong người 0,198 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường HS phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ.

. Về tính chất, mức độ, hành vi: Xét tính chất mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức đầy đủ về tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã lao vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, có thái độ tỏ ra ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015. Xét thấy nên giảm nhẹ cho bị cáo một mức hình phạt để thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật, tích cực cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội.

Mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị nêu trên là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Dương Văn Đg khai mua của một người thanh niên tên L ở khu vực chợ Dốc Hanh, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không đủ cơ sở điều tra làm rõ xử lý.

Đối với Phan Văn Đ là người cùng với Đg đi mua ma túy nhưng Đ không góp tiền, không nhìn thấy Đ mua ma túy nên hành vi của Đ không cấu thành tội phạm, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tiến hành giáo dục, nhắc nhở.

Đối với ông Nguyễn Trọng T là chủ sở hữu ngôi nhà ở tổ D, phường HS, thành phố Thái Nguyên, nơi Đg sử dụng ma túy, ông T không biết Đg mang ma túy đến nhà mình để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 20B2-21x.xx, quá trình điều tra xác định được là tài sản của chị Nguyễn Thị N. Xét thấy chị N không biết Đg sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên miễn hình phạt này cho bị cáo.

. Về vật chứng vụ án: thu giữ 01 bì niêm phong ký hiệu Đ được dán kín có 03 dấu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của Ngô Hoàng Đạo và Trần Đức Thủy, xét đây là vật chứng phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Còn 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ đen bạc có BKS 20B2-21x.xx; số máy JA39E0989xxx; số khung 3911KY133xxx. Số loại: Wave. Màu sơn: Đỏ đen bạc. Dung tích 109. Xét thấy chiếc xe máy là tài sản chung hợp nhất của chị Nguyễn Thị N và bị cáo Dương Văn Đg. Chị N không có lỗi trong việc bị cáo Dương Văn Đg đem xe đi mua ma túy nên trả lại chiếc xe máy trên cho chị N sử dụng.

. Bị cáo phải nộp án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn Đg phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt:

- Dương Văn Đg 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2020.

Căn cứ Điều 329 BLTTHS: Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Đ được dán kín có 03 dấu đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của Ngô Hoàng Đạo và Trần Đức Thủy.

- Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị N 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA màu sơn đỏ đen bạc có BKS 20B2-21xxx; số máy JA39E0989xxx; số khung 3911KY133xxx. Số loại: Wave; Màu sơn: Đỏ đen bạc; Dung tích 109. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 249 ngày 27/3/2020 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày; kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; kể từ ngày người liên quan nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ