vanban.org

Bản án 103/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Chí Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Chí Đ mức án: 10 (Mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/02/2020. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Chí Định - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Chí Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2020/HS-ST
Ngày: 09/7/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Văn Bé Em;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Phượng;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Thiềm Văn Ty – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 07 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2020/HSST ngày 09/6/2020 theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 107/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo :

Họ và tên: Phan Chí Đ – Sinh ngày 12/7/1989; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Số 174/6/10 đường Nguyễn Bỉnh K , phường Vĩnh Q , thành phố Rạch G , tỉnh Kiên G; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Phan Văn Ch – sinh năm 1968 (đã chết) và bà: Lưu Thị Ánh Nh – sinh năm: 1970; Em ruột có 02 người lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1996.

* Tiền sự: Không.

* Tiền án:

- Ngày 30/5/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội cố ý gây thương tích, đến ngày 22/3/2013 chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.

- Ngày 15/01/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, đ khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự, chấp hành án tại Trại giam Kênh 7 Bộ Công an, đến ngày 16/9/2019, chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/02/2020.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1/. Ông Huỳnh Thanh V sinh năm 1976; Địa chỉ cư trú: Tổ 14, ấp Mỹ H , xã Mỹ L , huyện Hòn Đ . (Vắng mặt)

2/. Ông Nguyễn Hoàng N , sinh năm 1960; Địa chỉ cư trú: Số 27/18 Ngô Q , phường Vĩnh B , thành phố Rạch G , tỉnh Kiên G . (Vắng mặt)

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T , sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: Số 198/39 Nguyễn Bỉnh K , phường Vĩnh Q , thành phố Rạch G , tỉnh Kiên G. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút, ngày 28/02/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá, loại Methamphetamine nên Nguyễn Văn T , sinh năm 1995, trú tại 198/39 Nguyễn Bỉnh K , phường Vĩnh Q , thành phố Rạch G , tỉnh Kiên G gọi điện thoại vào số 0888218825 của Phan Chí Đ , sinh năm 1989, trú tại 174/6/10 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá để hỏi mua một bịch ma túy, Đ đồng ý bán với giá 600.000 đồng và hẹn giao dịch trước Nhà nghỉ Kim Hoàng I, đường Nguyễn Phương Danh, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá. Sau đó Đ đến nhà ông Hùng (không rõ lai lịch) ở khu vực đường Chi Lăng, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá để mua ma túy đá với giá 500.000 đồng. Khi có ma túy Đ bỏ vào túi quần và đến chổ hẹn để đưa ma túy cho T như thỏa thuận, khi Đ đến trước nhà nghỉ Kim Hoàng I, đường Nguyễn Phương Danh, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá thì Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Rạch Giá phối hợp với Công an phường Vĩnh Bảo tiến hành bắt quả tang Đ và đưa về trụ sở Công an phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, khi bị bắt Đ vứt bỏ chiếc điện thoại di động Nokia màu đen có số điện thoại là 0888218825 dùng để liên lạc bán ma túy.

Qua quá trình điều tra, đã xác Đ được Phan Chí Đ là người nghiện ma túy. Nguồn ma túy mà Đ có để sử dụng và bán lại cho người nghiện là do mua của người đàn ông tên Hùng (không rõ lai lịch) ở khu vực đường Chi Lăng, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá. Đ đã mua tổng cộng 05 lần với giá mỗi lần là 500.000 đồng. Từ đó, Đ có ma túy để sử dụng và về chia nhỏ ra bán lại cho những người nghiện để kiếm lời.

Ngoài lần bị bắt quả tang, Đ còn trực tiếp bán trái phép chất ma túy tổng cộng 02 lần cho những người nghiện khác cụ thể:

Lần thứ nhất: Vào tối ngày 26/02/2020, tại đầu hẻm 204 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, Đ đã bán cho Trịnh Thanh K , sinh năm 1995, trú tại ấp Hỏa Vàm, xã Thạnh Yên, huyện U Minh Thượng một bịch ma túy đá với giá 300.000 đồng (số tiền mua ma túy có được là do Kiệt hùn với Danh Nam, sinh năm 2001, trú tại ấp Bình Lợi, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy về sử dụng).

Lần thứ hai: Vào tối ngày 26/02/2020, tại đầu hẻm 198 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá đã bán cho Nguyễn Văn T , sinh năm 1995, trú tại 198/39 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá một bịch ma túy đá với giá 300.000 đồng.

Ngay sau khi bắt quả tang Phan Chí Đ , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá tiến hành ra quyết Đ tạm giữ từ ngày 28/02/2020 và gia hạn đến ngày 05/3/2020 thì khởi tố và ra lệnh tạm giam bị cáo Phan Chí Đ từ ngày 05/3/2020 đến ngày 26/6/2020.

* Việc thu giữ vật chứng trong vụ án:

- Thu giữ bên trong túi quần phía sau bên trái của Phan Chí Đ :

+ 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh rài viền màu đỏ bên trong có chứa các hạt rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất tất cả được niêm phong trong phong bì màu trắng có chữ ký xác nhận của người bị bắt Phan Chí Đ , người chứng kiến Huỳnh Thanh V , Nguyễn Hoàng N , Điều tra viên Phạm Huỳnh Thanh Long và dấu mộc đỏ của Công an phường Vĩnh Bảo.

+ Tiền Việt Nam: 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).

+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung màu vàng, có số IMEI: 351590101101736/01 đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động.

+ 02 (Hai) ống thủy tinh (nỏ) để sử dụng ma túy .

+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động IMEI: 865566042898936

* Tại bản Kết luận giám Đ số 191/KL-KTHS, ngày 05/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

Các hạt chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất đựng trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám Đ là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám Đ là 0,5194 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị Đ số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ .

* Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý:

- Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trả lại cho Phan Chí Đ : Tiền Việt Nam 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng).

- Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trả lại cho Trịnh Thanh Kiệt: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI: 865566042898936, đã qua sử dụng do không có liên quan đến việc phạm tội theo quyết Đ xử lý vật chứng số 14, ngày 20/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung màu vàng, có số IMEI: 351590101101736/01 đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động, đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của Phan Chí Đ .

+ Tiền Việt Nam: 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) - đây là số tiền của Phan Chí Đ tự nguyện giao nộp do thu được vào những lần bán ma túy.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 64, ngày 21/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì có ký hiệu số 191/2020, có chữ ký của Giám Đ viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến Lê Văn Toàn và dấu hình tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang – Đây là số ma túy còn lại sau giám Đ .

+ 02 (Hai) ống thủy tinh (nỏ) để sử dụng ma túy - Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của Phan Chí Đ .

* Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKSTPRG ngày 09/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo Phan Chí Đ về tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy Đ tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa :

- Bị cáo Phan Chí Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Chí Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

- Về hình phạt:

+ Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt bị cáo Phan Chí Đ - mức án từ 8 năm đến 9 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ như sau:

[1] Về hành vi, quyết Đ tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy Đ của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết Đ của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: HĐXX xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Phan Chí Đ là người nghiện ma túy, nguồn ma túy Đ có để sử dụng và bán lại cho người nghiện là do mua của người đàn ông tên Hùng (không rõ lai lịch) ở khu vực đường Chi Lăng, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá. Đ đã mua tổng cộng 05 lần với giá mỗi lần là 500.000 đồng, khi có ma túy Đ đem về để sử dụng và chia nhỏ ra bán lại cho những người nghiện để kiếm lời, từ ngày 26/02/2020 đến khi bị bắt, Đ đã bán trái phép chất ma túy cho 02 người với tổng cộng 03 lần, với số tiền thu được là 600.000 đồng. Cụ thể như sau:

Vào tối ngày 26/02/2020, tại đầu hẻm 204 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, Đ đã bán cho Trịnh Thanh K một bịch ma túy đá với giá 300.000 đồng .

Vào tối ngày 26/02/2020, tại đầu hẻm 198 Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, Đ đã bán cho Nguyễn Văn T một bịch ma túy đá với giá 300.000 đồng.

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 28/02/2020 trước Nhà nghỉ Kim Hoàng I, đường Nguyễn Phương Danh, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, Đ đã bán một bịch ma túy, qua giám Đ là chất Methamphetamine, trọng lượng 0,5194 gam cho cho Nguyễn Văn T với giá 600.000 đồng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi phạm tội của bị cáo Phan Chí Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 BLHS. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, truy tố bị cáo theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy Đ pháp luật.

Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách N ệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Nhưng vì nhu cầu sử dụng chất ma túy cũng như muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Hơn thế nữa bị cáo đã từng có 02 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn không biết ăn năn hối cải để trở thành người lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, HĐXX cần tuyên cho bị cáo mức án tương xứng với tính chất hậu quả hành vi mà bị cáo đã gây nên, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất Đ mới đủ tính cải tạo giáo dục bị cáo sống trở thành người tốt, sống có ích cho gia đình và cho xã hội đồng thời mang tính răn đe đối với loại tội phạm này.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách N ệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng có 02 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích đây tình tiết cần xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách N ệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách N ệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mục đích bán ma túy của bị cáo chỉ là để có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng đồng thời bị cáo đã tự khai ra các lần phạm tội khác, bị cáo đã tự nguyện giao nộp tiền thu lợi bất chính, vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy Đ tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đ không có nghề nghiệp; thu nhập không ổn Đ . Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì có ký hiệu số 191/2020, có chữ ký của Giám Đ viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến Lê Văn Toàn và dấu hình tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang – Đây là số ma túy còn lại sau giám Đ .

+ 02 (Hai) ống thủy tinh (nỏ) để sử dụng ma túy - Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của Phan Chí Đ .

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung màu vàng, có số IMEI: 351590101101736/01 đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động, đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của Phan Chí Đ .

+ Tiền Việt Nam: 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) - đây là số tiền của Phan Chí Đ tự nguyện giao nộp do thu được vào những lần bán ma túy.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 64, ngày 21/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

+ Trả lại cho Phan Chí Đ : Tiền Việt Nam 2.900.000 đồng (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) do số tiền này không có liên quan đến việc phạm tội.

+ Trả lại cho Trịnh Thanh Kiệt: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI: 865566042898936, đã qua sử dụng do không có liên quan đến việc phạm tội.

Theo Quyết Đ xử lý vật chứng số 14, ngày 20/4/2020 2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

Các vấn đề khác trong vụ án:

+ Đối với người đàn ông tên Hùng (không rõ tên thật và địa chỉ) ở khu vực đường Chi Lăng, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá đã bán ma túy cho Đ để sử dụng và bán lại cho những người nghiện khác, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Rạch Giá tiếp tục điều tra làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ truy cứu sau.

+ Đối với Trịnh Thanh Kiệt, Danh Nam và Nguyễn Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá chuyển hồ sơ về địa phương để xử lý theo thẩm quyền.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy Đ về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Chí Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; Điều 299; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy Đ vể mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Phan Chí Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Phan Chí Đ mức án: 10 (Mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/02/2020.

- Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) phong bì có ký hiệu số 191/2020, có chữ ký của Giám Đ viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến Lê Văn Toàn và dấu hình tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang – Đây là số ma túy còn lại sau giám Đ .

+ 02 (Hai) ống thủy tinh (nỏ) để sử dụng ma túy - Đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của Phan Chí Đ .

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung màu vàng, có số IMEI: 351590101101736/01 đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động, đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của Phan Chí Đ .

+ Tiền Việt Nam: 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) Phan Chí Đ tự nguyện giao nộp do thu được vào những lần bán ma túy.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 64, ngày 21/4/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Chí Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/7/2020).

Trường hợp bản án, quyết Đ được thi hành theo qui Đ tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui Đ tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui Đ tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:

Cỡ chữ