- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Chí T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy'. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Chí T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 30 (ba mươi) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2020/HS-ST Ngày 28-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Chí Trung.
2. Ông Trịnh Văn Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 106/2020/TLST-HS ngày 11/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2020/QĐXXST-HS ngày 14/8/2020 đối với bị cáo:
Phạm Chí T, sinh năm 1977 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn Đ, xã T, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Chí S và bà Bùi Thị L; có vợ là Nguyễn Thị Y, sinh năm 1980 và 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/8/2007 Công an thị xã Phủ Lý (nay là thành phố Phủ Lý) xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 30/04/2008 Công an huyện Duy Tiên (nay là thị xã Duy Tiên) xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi: “Đánh bạc”, ngày 02/8/2010 Chủ tịch UBND huyện Duy Tiên (nay là thị xã Duy Tiên) quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, ngày 26/02/2014 Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt 36 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/7/2016; bị bắt, tạm giữ ngày 23/05/2020, tạm giam từ ngày 29/05/2020 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1980; trú tại: Thôn Đ, xã T, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hồng L, sinh năm 1967; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 23/05/2020, Phạm Chí T điều khiển xe máy BKS: 90B2-470... từ nhà đến Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hà Nam thuộc tổ dân phố Mễ Nội, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý để uống thuốc cai nghiện Methadone. Tại đây, T gặp bạn nghiện mới quen tên Long khoảng 30 tuổi nhà ở thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, Long nói với T:“Anh có tiền không, góp với em mua quả hàng chơi”, hiểu ý Long rủ góp tiền đi mua ma túy nên T nói không có tiền, T bảo Long có tiền bỏ ra mua ma túy để cùng sử dụng lần khác T sẽ mua mời lại Long và được Long đồng ý. Sau đó Long và T mỗi người điều khiển một xe máy đi đến khu vực xóm 4, xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý thì dừng lại, Long lấy điện thoại ra gọi cho ai đó nói:“Bán cho em một trăm năm mươi nghìn” rồi bảo T đứng đợi và đi tiếp, một lát sau Long quay lại đưa cho T 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng nói:“Anh cầm lấy hàng để em đi mua xi lanh” rồi bỏ đi. Biết trong vỏ bao thuốc lá có ma túy, T cầm lấy và giữ trong lòng bàn tay trái. Trong lúc đứng chờ Long quay lại, T bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam đang làm nhiệm vụ phát hiện thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ, T tự giác lấy giao nộp cho lực lượng Công an 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, kiểm tra bên trong thấy có 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai nhận đó là ma túy, cất giấu mục đích để sử dụng.
Vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 ví giả da màu nâu; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe môtô, 01 giấy chứng nhận đăng ký môtô, xe máy đều mang tên Phạm Chí T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu hồng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 90B2-470..
Tại bản Kết luận giám định số 79/PC09-MT ngày 26/05/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,124 gam, loại Heroine”.
Bản cáo trạng số 110/CT-VKS-PL ngày 10/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Phạm Chí T về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Phạm Chí T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt Phạm Chí T từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Chí T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ của vụ án như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lý lịch tư pháp của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 23/05/2020, tại khu vực xóm 4, xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Phạm Chí T bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,124 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu do đã từng bị kết án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Đánh bạc” và đưa đi cai nghiện bắt buộc (đều đã được xóa án tích và hết thời hạn coi như chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có người thân (bố đẻ) là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang và Huân chương chiến công nên sẽ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma túy, bản thân không có nghề nghiệp, thu nhập và tài sản riêng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên tên Long theo bị cáo khai gặp ở Trung tâm phòng chống bệnh tật tỉnh Hà Nam là người đã đi mua ma túy và đưa cho bị cáo để cất giấu, do Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng không xác định được đặc điểm nhân thân và địa chỉ của người này nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý là có căn cứ.
Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:
- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 90B2-470..., quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân của bị cáo và chị Nguyễn Thị Y (vợ bị cáo). Tại bản kết luận định giá tài sản số 60/2020 ngày 13/7/2020, Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý đã xác định chiếc xe máy có giá trị là 11.000.000 đồng. Do bị cáo đã sử dụng tài sản này làm phương tiện để phạm tội nên sẽ xem xét tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước phần tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo là ½ giá trị chiếc xe, phần giá trị còn lại của tài sản này sẽ trả lại cho chị Y. Tại phiên tòa, chị Y đề nghị xin được thanh toán đối trừ ½ giá trị của chiếc xe tại thời điểm định giá thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo bị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước và xin được nhận lại chiếc xe để sử dụng, xét thấy nguyện vọng này của chị Y là tự nguyện, chính đáng, phù hợp quy định pháp luật nên sẽ được xem xét, chấp nhận và chị Y sẽ được giao quyền sở hữu đối với giấy chứng nhận đăng ký của chiếc xe.
- Đối với 01 ví giả da màu nâu; 01 thẻ căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe môtô đều mang tên Phạm Chí T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu hồng quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án nên sẽ trả lại cho bị cáo.
- Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói và 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng là vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng sẽ tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Chí T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/05/2020.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Phạm Chí T 01 (một) ví giả da màu nâu; 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Phạm Chí T; 01 (một) giấy phép lái xe mang tên Phạm Chí T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ ngoài màu hồng, số IMEI1: 863091036529795, số IMEI2: 863091036529787.
- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy đeo biển kiểm soát 90B2-47014, số máy: E1202108, số khung: FZ661856.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Y ½ giá trị chiếc xe máy đeo biển kiểm soát 90B2-470.., số máy: E1202108, số khung: FZ661856. Chấp nhận đề nghị của chị Y, trả lại cho chị chiếc xe máy trên sau khi đã thanh toán đối trừ ½ giá trị của chiếc xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Phạm Chí T bị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước tính tại thời điểm định giá là 5.500.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Y được nhận 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 080257 và có trách nhiệm đăng ký lại quyền sở hữu đối với tài sản này theo quy định của pháp luật.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01”, số 79/PC09-MT có chữ ký và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam và 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 13/8/2020.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phạm Chí T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Phủ Lý; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Người có QL, NVLQ đến vụ án; - Bị cáo Phạm Chí T; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thanh Sơn |