- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cà Văn H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 103/2020/HS-ST Ngày: 19-6-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Thủy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Ơn.
Ông Quàng Văn Minh.
-Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên;
Ngày 19 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn H, tên gọi khác: Không; sinh năm 1977, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản P, xã N, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cà Văn M (đã chết) và con bà: Lò Thị P (đã chết); có vợ: Lò Thị M1, sinh năm 1977 (đã ly hôn năm 2014) và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2007; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/05/2020, tạm giam từ ngày 14/05/2020 đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 11/05/2020, Cà Văn H đi bộ từ nhà ở Bản P, xã N, huyện Điện Biên đến khu vực gần đền Hoàng Công Chất ở Bản P, xã N, huyện Điện Biên mua được 01 cục Heroine với giá 150.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) đang đứng ở ven đường, với mục đích đem về để sử dụng và bán lẻ. Sau khi mua được H mang về nhà chia cục Heroine vừa mua được ra thành 07 (bẩy) gói, trong đó 06 (sáu) gói được gói bằng giấy nilon màu hồng, 01 (một) gói được gói bằng giấy nilon màu trắng, miệng tất cả các gói được hơ lửa hàn kín, khi chia xong H cho 07 (bẩy) gói Heroine vừa chia được vào trong một mảnh giấy nilon màu hồng và cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc. Hồi 15 giờ 50 phút cùng ngày, khi Cà Văn H đang ở nhà thì bị Tổ công tác Công an huyện Điện Biên vào kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải H đang mặc một gói nilon màu hồng, miệng gói được xoắn lại, bên trong hộp chứa 07 (bẩy) gói Heroine có khối lượng 0,33 (không phẩy ba mươi ba) gam.
Tại phiên tòa bị cáo Cà Văn H đã khai nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai hoàn toàn phù hợp với nội dung vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong và xác định khối lượng lấy mẫu giám định, kết luận giám định, kết luận điều tra....
Kết luận giám định số 408/GĐ-PC09 ngày 17/05/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Cà Văn H gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của H là 0,33 gam; Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018. Không hoàn lại đối tượng giám định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về kết luận Giám định nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 123/CT - VKSHĐB ngày 04/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,33 gam Heroine, trích mẫu 0,05 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại 0,28 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo Cà Văn H hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi của bị cáo: Khoảng 15 giờ, ngày 11/05/2020, Cà Văn H đi bộ đến khu vực gần đền Hoàng Công Chất ở Bản P, xã N, huyện Điện Biên gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ và mua của người đó 01 cục Heroine với giá 150.000 đồng, mục đích đem về sử dụng và bán lẻ. H mang về nhà chia thành 07 gói. Cùng ngày H đã bị Tổ công tác Công an huyện Điện Biên phát hiện, bát quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng có khối lượng 0,33gam Heroine.Với hành vi trên thì có đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo đã tiếp tay cho những người khác chuyên buôn bán các chất ma túy ngày càng phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng tới trật tự trị an, an toàn trong xã hội trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Nên bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết nào tăng nặng. Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã N, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, bị cáo không được đi học, ở nhà làm ruộng. Năm 1999 kết hôn với chị Lò Thị M1 và sinh được 02 người con, năm 2014 ly hôn vợ. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2007 cho đến nay. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, nguồn thu chính từ làm ruộng, bản thân bị cáo sử dụng ma túy. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về hành vi của bị cáo bị truy tố và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng huyện Điện Biên và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng đã được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật và được chấp nhận.
. Nguồn gốc số Heroine thu giữ của bị cáo, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc thái khoảng 40 tuổi, do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xử lý.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,33 gam Heroine, trích mẫu 0,05 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại 0,28 gam là.
. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Cà Văn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 11/05/2020.
3. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 0,33 gam Heroine, trích mẫu 0,05 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại 0,28 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành.
(Vật chứng của vụ án đã được cơ quan Điều tra Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo Biên bản bản giao nhận vật chứng ngày 11/6/2020).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/6/2020)./.
| Nơi nhận: - VKSND t. Điện Biên; -VKSND h. Điện Biên - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an h. ĐB - Nhà tạm giữ CA huyện Điện Biên - Trại giam; - CQĐT CA huyện ĐB. - Bị cáo - Cơ quan THA. HS Công an huyện Điện Biên - Thi hành án Dân sự h. Điện Biên - Phòng KTNV và THA – TAND tỉnh ĐB. - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - L u hå sơ THA. - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu bộ phận. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Thủy |