- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:
- Căn cứ chính? Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103/2020/DS-ST Ngày: 04/8/2020 V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ồng Lê Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Lâm Sơn.
2. Bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cm, tỉnh An Giang.
Ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cm, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2020/TLST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2020/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc HN, sinh năm 1984; có mặt.
Địa chỉ: 8/5 Hà Hoàng Hổ, phường Mỹ Xuyên, thành phố LX, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn An K, sinh năm 1970; vắng mặt.
2.2. Bà Nguyễn Thanh V, sinh năm 1974; vắng mặt.
2.3. Anh Nguyễn Thanh Tuấn, sinh năm 1996; vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp Long Phú 2, xã LĐ B, huyện Cm, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2019, quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc HN trình bày:
Ngày 31/7/2018, ông có cho vợ chồng ông Nguyễn An K và bà Nguyễn Thanh V vay số tiền là 50.000.000 đồng; mục đích vay tiêu dùng; thời hạn vay 24 tháng kể từ ngày 01/8/2018 đến hết ngày 01/8/2020; phương thức thanh toán trả góp vào ngày 25 hàng tháng số tiền là 3.624.000 đồng bao gồm vốn và lãi phát sinh; khi vay có lập Hợp đồng cho cá nhân vay tiền thế chấp tài sản kiêm biên nhận nhận tiền vay ngày 31/7/2018 (Hợp đồng vay tiền ngày 31/7/2018) và Lịch trả nợ ngày 01/8/2018 do các bên cùng ký tên; ngoài ra để làm tin và bảo đảm khoản vay, ông K, bà V còn giao cho ông giữ 01 Bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 04072QSDĐ/cB ngày 04/8/2004 do UBND huyện Cm, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn An K và bà Nguyễn Thanh V đứng tên với diện tích 133,70m2 đất thổ cư thuộc thửa số 107, tờ bản đồ số 07, tại địa chỉ xã LĐ B, huyện Cm, tỉnh An Giang (Giấy chứng nhận QSDĐ số 04072QSDĐ/cB). Tuy nhiên, sau khi vay, ông K, bà V chỉ trả nợ được 09 tháng thì ngưng, vẫn còn nợ vốn gốc là 37.611.159 đồng. Do trên hợp đồng, tên người vay ngoài vợ chồng ông K, bà V thì còn có tên người con ruột là Nguyễn Thanh Tuấn; do dó, khi khởi kiện ông đã yêu cầu cả anh Tuấn cùng liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho ông. Tại phiên tòa, nhận thấy ông K, bà V đã trả mỗi tháng 3.624.000 đồng từ ngày 01/8/2018 đến ngày 01/5/2019 là 09 tháng, tính theo lãi suất 20%/năm thì số vốn gốc còn nợ lại là 23.143.000 đồng chứ không phải 37.611.159 đồng. Do đó, ông có rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền là 14.468.159 đồng (37.611.159 đồng – 23.143.000 đồng). Ngoài ra, do anh Tuấn không có ký tên hợp đồng vay nên ông còn rút thêm yêu cầu khởi kiện đối với anh Tuấn. Tiếp tục yêu cầu vợ chồng ông K, bà V cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền vay còn nợ vốn gốc là 23.143.000 đồng và lãi phát sinh theo Luật định tính từ ngày 01/5/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm. Bị đơn ông Nguyễn Thanh K, bà Nguyễn Thanh V và anh Nguyễn Thanh Tuấn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông K, bà V và anh Tuấn đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không rõ lí do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc HN khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh K, bà Nguyễn Thanh V và anh Nguyễn Thanh Tuấn cùng liên đới chịu trách nhiệm trả số tiền vay còn nợ nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Ông K, bà V và anh Tuấn với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Long Phú 2, xã LĐ B, huyện Cm, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Cm, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Các bị đơn K, V và Tuấn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của các bị đơn không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bị đơn và không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các bị đơn K, V và Tuấn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS.
Tại phiên tòa, ông N rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 14.468.159 đồng và rút yêu cầu khởi kiện đối với anh Nguyễn Thanh Tuấn nên Tòa án đình chỉ giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 244 BLTTDS.
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc HN xác định vào ngày 31/7/2018 có cho bị đơn là vợ chồng ông Nguyễn An K và bà Nguyễn Thanh V vay số tiền 50.000.000 đồng để tiêu dùng, thời hạn vay là 24 tháng, phương thức thanh toán vốn gốc và lãi hàng tháng là 3.624.000 đồng cho đến khi dứt nợ; đồng thời, để làm tin và bảo đảm khoản vay ông K, bà V còn giao cho ông N 01 Bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 04072QSDĐ/cB. Tuy nhiên, sau khi vay ông K, bà V chỉ thanh toán được vốn và lãi đến ngày 01/5/2019 thì ngưng cho đến nay vẫn còn nợ vốn là 23.143.000 đồng.
Chứng minh cho lời trình bày của mình, ông N có cung cấp 01 Hợp đồng vay tiền ngày 31/7/2018; 01 Lịch trả nợ ngày 01/8/2018 có chữ ký, ghi họ tên của các bên và 01 Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất số 04072QSDĐ/cB. Như vậy, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự; ngược lại, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn là vợ chồng ông K và bà V vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và lời trình bày mà nguyên đơn cung cấp, Tòa án xác định việc bị đơn là vợ chồng ông K, bà V có giao 01 Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất số 04072QSDĐ/cB để vay tiền của nguyên đơn và hiện vẫn còn nợ nguyên đơn vốn gốc là 23.143.000 đồng là có thật; vì vậy, việc ông K, bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nên ông N có quyền yêu cầu hoàn trả vốn gốc và lãi phát sinh là hoàn toàn phù hợp quy định tại Điều 463, Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 và khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Số tiền lãi được tính cụ thể như sau: Từ ngày 01/5/2019 đến ngày 04/8/2020 là 15 tháng 03 ngày x 23.143.000 đồng x 20%/12 tháng = 5.900.000 đồng.
Như vậy, tổng vốn và lãi phát sinh ông K, bà V phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông N là 29.043.000 đồng (Hai mươi chín triệu không trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Trong đó vốn là 23.143.000 đồng và lãi là 5.900.000 đồng. [3] Án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì: Ông Nguyễn Ngọc HN rút một phần yêu cầu khởi kiện và phần yêu cầu khởi kiện còn lại được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.057.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007970 ngày 05/2/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cm, tỉnh An Giang. Ông Nguyễn An K và bà Nguyễn Thanh V phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch đối với nghĩa vụ trả nợ là: 29.043.000 đồng x 5% = 1.452.150 đồng làm tròn là 1.452.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn đồng). Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 91; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Điều 463; Điều 466 và khoản 1, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử: 1. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc HN về việc buộc bị đơn là anh Nguyễn Thanh Tuấn cùng có nghĩa vụ liên đới với ông Nguyễn An K và bà Nguyễn Thanh V thanh toán số tiền vay còn nợ vốn gốc là 37.611.159 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm mười một nghìn một trăm năm mươi chín đồng) và lãi phát sinh theo Luật định. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông N về việc buộc vợ chồng ông K và bà V có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền vay còn nợ vốn gốc là 14.468.159 đồng (Mười bốn triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn một trăm năm mươi chín đồng) và lãi phát sinh theo Luật định. 2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc HN. Buộc bị đơn là vợ chồng ông Nguyễn An K và bà Nguyễn Thanh V có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông N số tiền cả vốn lẫn lãi là 29.043.000 đồng (Hai mươi chín triệu không trăm bốn mươi ba nghìn đồng). Trong đó vốn gốc là 23.143.000 đồng và lãi phát sinh là 5.900.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khi ông K, bà V hoàn tất nghĩa vụ thanh toán nợ, ông N có trách nhiệm hoàn trả cho ông K, bà V 01 bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 04072QSDĐ/cB ngày 04/8/2004 do UBND huyện Cm, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn An K và bà Nguyễn Thanh V.
3. Án phí:
Ông Nguyễn Ngọc HN không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.057.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007970 ngày 05/2/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cm, tỉnh An Giang.
Ông Nguyễn An K và bà Nguyễn Thanh V phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch đối với nghĩa vụ trả nợ là 1.452.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh AG; - VKSND huyện Cm; - CC THA huyện Cm; - Các đương sự; - Lưu VT và hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Nghĩa |