- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng". - phạm tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 103 /2019/HSST Ngày: 31 – 10 – 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬ N THỐ T NỐ T - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thúy Kiên
2. Bà Lê Cẩm Huỳnh
Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Cán bộ Toà án Nhân dân quậ n
Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quậ n Thố t Nố t - thành phố Cần Thơ tham
gia phiên toà: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quậ n Thố t Nố t -
thành phố Cần Thơ, tiế n hà nh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2019/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2019/QĐXXST- HS ngày 18/10/2019, đối với bị cáo:
TRẦ N VĂN T – sinh năm 1969. Nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, huyệ n Thoạ i Sơn,
tỉnh An Giang . Nghề nghiệ p : Làm thuê; trình độ văn hóa : 8/12. Dân tộ c: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Cha: Trầ n Văn T (chế t); Mẹ: Trương Thị Ú t - sinh năm 1932. Vợ: Nguyễ n Thị N - sinh năm 1970; có 02 con (lớ n sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1998). Tiề n á n, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2019 cho đế n nay. (có mặt tại phiên tòa)
Đạ i diệ n gia đì nh bị hạ i Nguyễn Văn Đ:
1. Ông Nguyễ n Văn T – sinh năm 1965; vắng mặt
2. Bà Nguyễ n Thị Thanh L – sinh năm 1969; có mặt
Cùng cư trú: Khu vự c T1, phườ ng T, quậ n Thố t Nố t, thành phố Cần Thơ.
Đạ i diệ n gia đì nh bị hạ i Nguyễ n Đì nh Huy:
1. Ông Nguyễ n Đì nh T – sinh năm 1973; có mặt
2. Bà Nguyễ n Tố T – sinh năm 1983; có mặt
Cùng cư trú: Khu vự c T1, phườ ng T, quậ n Thố t Nố t, thành phố Cần Thơ.
Đạ i diệ n gia đì nh bị hạ i Nguyễ n Hoà ng Thái:
1. Ông Nguyễ n Huy C – sinh năm 1979; vắng mặt
2. Bà Nguyễ n Thị Thù y T – sinh năm 1980; có mặt
Cùng cư trú: Khu vự c T1, phườ ng T, quậ n Thố t Nố t, thành phố Cần Thơ.
Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Hƣ̃ u C – sinh năm 1955; vắng mặt
Cư trú: Đường Mạc Đỉnh Chi, phườ ng An Cư, quậ n Ninh Kiề u, thành phố Cần Thơ.
2. Ông Hƣ́ a Hoà ng Tr – sinh năm 1960; vắng mặt
Cư trú: Khóm B3, phườ ng M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
3. Ông Võ Hồng T – sinh năm 1950; vắng mặt
Cư trú: Khu vự c T1, phườ ng T, quậ n Thố t Nố t, thành phố Cần Thơ.
4. Công ty Cổ phầ n HT
Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn P – sinh năm 1953; vắng mặt
Trụ sở Công ty: Khu vự c T3, phườ ng T, quậ n Thố t Nố t, thành phố Cần Thơ.
Ngườ i là m chứ ng:
1. Ông Nguyễ n Văn D – sinh năm 1975; vắng mặt
Cư trú: Khóm T, phườ ng M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
2. Ông Trầ n Văn H – sinh năm 1962; vắng mặt
Cư trú: Khóm 3, phườ ng B, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
3. Ông Trƣơng Văn Th – sinh năm 1985; vắng mặt
Cư trú: Khóm T, phườ ng M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
4. Anh Ngô Phƣớ c T – sinh năm 2001; vắng mặt
Cư trú: Khu vự c T1, phườ ng T, quậ n Thố t Nố t, thành phố Cần Thơ.
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Qua cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và quá trì nh xé t hỏ i , tranh luậ n tạ i
phiên tò a, nộ i dung vụ á n đượ c tó m tắ t như sau:
Công ty Cổ phầ n HT do ông Nguyễ n Văn P làm giám đốc, có thửa đất diện tích 3.000 m2 tọa lạc tại khu vực T2, phườ ng T, quậ n Thố t Nố t, thành phố Cần Thơ. Do có nhu cầ u cầ n san lấ p mặ t bằ ng nên ông P nhờ ông Võ Hồ ng T tìm người để bơm cát khu đấ t trên, ông T mớ i thỏ a thuậ n vớ i ông Lê Hữ u C phát hoang cỏ dại, đắ p bờ bao xung quanh khu đấ t và thỏ a thuậ n vớ i ông Hứ a Hoà ng T r về việ c bơm cá t san lấ p mặ t bằ ng khu đấ t trên. Sau khi thỏ a thuậ n vớ i ông C và ông Tr thì ông T báo lại với ông P và ông P đồ ng ý thỏ a thuậ n.
Trong quá trì nh thự c hiệ n công việ c, do không có phương tiệ n bơm cá t nên ông Trình tiếp tục trực tiếp thỏa thuận với Trần Văn T vớ i hì nh thứ c ông Tr ứng vốn, còn T trự c tiế p thự c hiệ n việ c chuẩ n bị má y mó c, phương tiệ n, thuê mướ n nhân công, bơm cát san lấp mặt bằng . Hình thức chia lợi nhuận là ông Tr đượ c 04 phầ n, T đượ c 06 phầ n sau khi đã trừ cá c chi phí . Sau đó T thuê Trương Văn Th, Nguyễ n Văn D, Trầ n Văn H thự c hiệ n việ c bơm cá t vớ i giá 1.300 đồ ng/m3. Th, D, H tự phân công nhiệ m vụ với nhau, trong đó Th phụ trách ở phần đầu ống cát ra và phả cát mặt bằng san lắp, D, H phụ trách phần máy bơm cát và cho máy hút cát bơm lên.
Vào lú c 15 giờ ngà y 03/4/2011, các em Nguyễn Văn Đ - sinh năm 2000, Nguyễ n Hoà ng T - sinh năm 2002 và Nguyễn Đình H - sinh năm 2001 và Ngô Phước T - sinh năm 2001 đi và o cá c hố cá t trong công trì nh để chơi . Sau đó , các em Đ, T, H bị sụp hố nước sâu , do không biế t bơi nên bị ngạ t nướ c . Em T bám được vào rễ cây leo lên bờ rồ i bá o cho Th biế t. Th chạy đến và vớt được Đ rồ i sau đó tắ t má y bơm và cùng những người dân vớt được các em T, H. Hậ u quả các em Đ, T, H tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y Số 49, 50, 51 cùng ngày 03/4/2011 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thà nh phố Cầ n Thơ kế t luậ n : Nguyễ n Văn Đ , Nguyễ n Hoà ng T, Nguyễ n Đì nh H tử vong do choáng sau ngạt nước.
Về trá ch nhiệ m dân sự : Theo Bả n á n Hình sự sơ thẩm Số 68/2011/HSST ngà y 27/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ tuyên buộc Trầ n Văn T và Hứa Hoàng Tr có trách nhiệm liên đớ i bồ i thườ ng thiệ t hạ i tí nh mạ ng cho các bị hại với tổng số tiền là 172.500.000 đồ ng (bao gồm 10.000.000 đồng Trần Văn T đã đưa trước). Đế n nay, Hứ a Hoà ng Tr đã bồ i thườ ng đượ c số tiề n là 60.000.000 đồ ng; Trầ n Văn T đã bồ i thường được 24.000.000 đồ ng.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bả n Cáo trạng đã truy tố . Các đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì và đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t tham gia phiên tò a vẫ n giữ nguyên nộ i dung bả n Cáo trạng số 100/CT-VKS ngà y 03/10/2019, truy tố bị cáo Trần Văn T về tội "Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng" theo điểm a khoản 3 Điều 298 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sử a đổ i bổ sung năm 2017; đồ ng thờ i đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 3 Điều 298 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sử a đổ i bổ sung năm 2017;
+ Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 07 năm đến 08 năm tù.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự : Đã được giải quyết theo Bả n á n hì nh sự sơ thẩ m số 68/2011/HSST ngà y 27/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ :
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:
[1] Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an quậ n Thố t
Nố t, Điề u tra viên , Việ n kiể m sá t nhân dân quậ n Thố t Nố t , Kiể m sá t viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự thủ tục quy định của Bộ luậ t Tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tò a không có ngườ i nà o khiế u nại về hành vi, quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố . Lờ i nhậ n tộ i củ a bị cá o phù hợ p vớ i cá c chứ ng cứ khác thu thập được trong quá trì nh điề u tra vụ án.
Như vậy, có cơ sở xác định bị cáo Trần Văn T là người tổ chức, chịu trách nhiệm quản lý thi công công trình bơm cát tại thửa đất của Công ty Cổ phần HT thuộc khu vực T1 – phường T – quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ. Nhưng trong quá trình thực hiện thi công, đã không tiến hành gắn rào chắn, biển cảnh báo, bảng hướng dẫn để đề phòng tai nạn xảy ra tại những vị trí nguy hiểm trên công trường như đường hào, hố móng… Do vậy, vào lú c 15 giờ ngà y 03/4/2011, các em Nguyễn Văn Đ - sinh năm 2000, Nguyễ n Hoà ng T - sinh năm 2002, Nguyễ n Đì nh H - sinh năm 2001 và Ngô Phướ c T - sinh năm 2001 đi vào khu vực các hố cát trong công trình để chơi. Sau đó , Đ, T, H bị sụp hố nước sâu, do không biế t bơi nên bị ngạ t nướ c , T bám được vào rễ cây leo lên bờ rồ i bá o cho anh Trương Văn Th biế t. Anh Th chạy đến và vớt đ ược Đ rồ i sau đó tắ t má y bơm và cù ng với nhữ ng ngườ i dân vớ t đượ c các em T, H. Hậ u quả các em Đ, T, H bị tử vong. Tại Bản kết luận giám định pháp y Số 49, 50, 51 cùng ngày 03/4/2011 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an thà nh phố Cầ n Thơ kế t luậ n : Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Hoà ng T, Nguyễ n Đì nh H tử vong do choá ng sau ngạ t nướ c . Hành vi bị cáo Trần Văn T thực hiện đã vi phạm các quy định về xây dựng trong lĩnh vực thi công, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo Tâm về tội "Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng" theo điểm a khoản 3 Điều 298 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sử a đổ i bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội.
[3] Xét thấy, bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được trách nhiệm của bản thân là người quản lý thi công, cũng như lường được mức độ nguy hiểm trong hoạt động thi công bơm cát nhất là đối với các công trình có quy mô diện tích rộng, gần nơi dân cư sinh sống. Tuy nhiên, do không tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn trong quá trình thi công nên đã dẫn đến hậu quả như trên. Với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần phải có hình phạt nghiêm minh, tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp. Tuy nhiên, có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường được một phần trách nhiệm dân sự; phía gia đình người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung, nên miễn cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bả n á n hì nh sự sơ thẩ m Số 68/2011/HSST ngà y 27/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Riêng đối với hành vi trực tiếp bơm cát của anh Trương Văn Th, hành vi hùn hạp làm thầu bơm cát của ông Hứa Hoàng Tr với Trần Văn T, quá trình điều tra xác định chưa đủ cơ sở khởi tố trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, để phòng tránh việc bỏ sót tội phạm, Hội đồng xét xử thấy cần thiết kiến nghị Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Trương Văn Th và Hứa Hoàng Tr, để xử lý theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng".
1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 3 Điều 298 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sử a đổ i bổ sung năm 2017;
+ Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2019.
+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bả n á n hì nh sự sơ thẩ m Số 68/2011/HSST ngà y 27/9/2011 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
3. Kiến nghị: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Thốt Nốt tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Trương Văn Th và Hứa Hoàng Tr liên quan trong vụ án này, để xử lý theo quy định pháp luật.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; đại diện gia đình bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP.Cần Thơ; - VKSND Q.Thốt Nốt; - Công an Q.Thốt Nốt; - Chi cục THADS Q.Thốt Nốt; - Bị cáo…; - Lưu HS . | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Kiệt |