vanban.org

Bản án 103/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tô Thị Ánh Tuyết - NGuyễn Đoàn Thanh xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 09/10/2019
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ NAM HOA

- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông NGUYỄN VĂN BẠN

2/ Bà VÕ THỊ BỜI

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ THU HIỀN

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham hia phiên tòa:

Ông LÊ HOÀNG ANH - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nha Trang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 412/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2019/QĐST - HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2019; giữa:

* Nguyên đơn: Bà Tô Thị Ánh T- Sinh năm 1996

Địa chỉ: Vĩnh Ng, Nha Trang

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Đoàn Th - Sinh năm 1993

Địa chỉ: Vĩnh Ng, Nha Trang

Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, bà Tô Thị Ánh T trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa:

Tôi và ông Nguyễn Đoàn Th tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa vào năm 2014. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tin tưởng lẫn nhau dẫn đến cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc. Nay xét thấy không thể hàn gắn được nên tôi xin được ly hôn với ông Th.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Thúy Ph, sinh ngày: 29/5/2014 và Nguyễn Ngọc T, sinh ngày: 16/3/2018. Sau khi ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu ông Th đóng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật.

Bị đơn, ông Nguyễn Đoàn Th trình bày tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa:

Về quan hệ hôn nhân của chúng tôi đúng như cô Tô Thị Ánh T đã trình bày. Trong quá trình chung sống giữa tôi và cô T thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Tuy nhiên, do vợ chồng tôi còn trẻ, tôi còn tình cảm yêu thương cô T. Nên việc cô T xin ly hôn tôi không đồng ý.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Thúy Ph, sinh ngày: 29/5/2014 và Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày: 16/3/2018. Sau khi ly hôn, tôi giao hai con cho cô T trực tiếp nuôi dưỡng và không đóng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm đề nghị HĐXX giải quyết như sau:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, HĐXX và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của các đương sự tại phiên tòa cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà Tô Thị Ánh T và ông Nguyễn Đoàn Th không hạnh phúc do không tin tưởng lẫn nhau, cả hai đã sống ly thân từ tháng 7/2019 cho đến nay nên bà T xin được ly hôn; ông Th không đồng ý ly hôn nhưng không có giải pháp nào để hành gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Đoàn Th; xin được nuôi hai con là cháu Nguyễn Ngọc Thúy Ph - SN: 2014 và Nguyễn Ngọc Th - SN: 2018; Tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy đề nghị HĐXX căn cứ Điều Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Tô Thị Ánh T được ly hôn ông Nguyễn Đoàn Th.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Thúy Ph, sinh ngày: 29/5/2014 và Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày: 16/3/2018 cho bà Tô Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng cấp dưỡng nuôi con cho ông Th do bà T không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tô Thị Ánh T và ông Nguyễn Đoàn Th tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Tô Thị Ánh T phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghe ý kiến trình bày của nguyên đơn và xem xét các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp theo yêu cầu của bà Tô Thị Ánh T được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Ánh T và ông Nguyễn Đoàn Th tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại UBND phường V, Tp. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Bà Tô Thị Ánh T xin ly hôn, ông Nguyễn Đoàn Th không đồng ý ly hôn. Qua lời trình bày của bà T và ông Th cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng xảy ra đã lâu, cả hai đã sống ly thân từ tháng 7/2019 cho đến nay nhưng không có giải pháp để hòa hợp chung sống hạnh phúc. Vì vậy, cuộc sống chung không thể kéo dài, đời sống hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tô Thị Ánh T đối với ông Nguyễn Đoàn Th.

- Về con chung: Bà Tô Thị Ánh T và ông Nguyễn Đoàn Th có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Thúy Ph, sinh ngày: 29/5/2014 và Nguyễn Ngọc T, sinh ngày: 16/3/2018. Sau khi ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu ông Th đóng cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy điều kiện nuôi dưỡng của bà T và ông Th đều như nhau, ngoài lời trình bày không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh cho tình trạng kinh tế của bản thân. Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà T hiện hai cháu còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ, mặt khác ông Th làm nghề đi biển nên thường xuyên vắng nhà. Do đó, để tránh việc thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến tâm lý của con chung nên Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà T nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông Th đóng cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tô Thị Ánh T và ông Nguyễn Đoàn Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Tô Thị Ánh T phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0014901 ngày 17/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà T đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271; và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Tô Thị Ánh T được ly hôn với ông Nguyễn Đoàn Th.

2. Giao con chung Nguyễn Ngọc Thúy Ph, sinh ngày: 29/5/2014 và Nguyễn Ngọc Th, sinh ngày: 16/3/2018 cho bà Tô Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng cấp dưỡng nuôi con cho ông Th do bà T không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tô Thị Ánh T và ông Nguyễn Đoàn Th tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Tô Thị Ánh T phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0014901 ngày 17/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà T đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ