vanban.org

Bản án 103/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 14/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chu Minh T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Chu Minh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2018. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chu Minh T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2018/HS -ST.
Ngày 14 - 8 - 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: bà Nguyễn Thị Xuyên.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trí Trung và bà Nguyễn Thị Chương.

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Chu Minh T, sinh năm 1976, tại Tuyên Quang; nơi cư trú: xóm 3, thôn ĐX, xã VX, huyện KB, tỉnh Hà Nam; nghề nGệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chu Văn V (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1950 có vợ: Phạm Thị G, sinh năm 1976 và có 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2018 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam. Có mặt.

*Người làm chứng:

Ông Trần Văn G1, sinh năm 1957; địa chỉ: tổ dân phố T, phường LC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 01 tháng 6 năm 2018, Chu Minh T điều khiển xe mô tô BKS 90B1-027.34 đi từ nhà xuống thành phố Phủ Lý mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến gần trường cấp 3 Biên Hòa thuộc tổ dân phố Mễ Nội, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý thì gặp một người phụ nữ khoảng 30 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch), T hỏi người phụ nữ: “Mua hộ tôi một quả”, người phụ nữ biết T hỏi mua ma túy nên trả lời: “Đưa tiền đây”. T lấy ra số tiền 300.000đ đưa cho người phụ nữ, người phụ nữ cầm tiền T đưa và nói: “Ông đứng đây đợi tý” rồi điều khiển xe mô tô đi đâu đó một lúc sau quay lại đưa cho T 01 gói giấy bạc màu vàng và nói: “ Cầm lấy, hàng trong đó”, biết là gói ma túy nên T không mở ra xem mà cầm ở tay phải, sau đó người phụ nữ điều khiển xe đi còn T đang định đi tìm chỗ để sử dụng thì bị lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý yêu cầu kiểm tra, T đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu vàng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là gói ma túy vừa mua được mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa T về trụ sở lập biên bản theo quy định của pháp luật.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ màu vàng; 01 xe máy nhãn hiệu Loncin màu nâu đeo BKS 90B1-027.34.

Tại bản kết luận giám định số 91/PC54-MT ngày 04/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,167gam, loại Heroine.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Minh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý không thu giữ gì.

Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKS-PL ngày 17 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Chu Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Chu Minh T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử phạt Chu Minh T từ 24 tháng đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine cùng bao gói; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu Loncin, BKS 90B1-027.34; trả lại Chu Minh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ màu vàng.

Tại phiên tòa bị cáo Chu Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Chu Minh T đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp chứng cứ khác của vụ án như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 01/6/2018, tại tổ dân phố Mễ Nội, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Chu Minh T đang cất giấu trái phép 0,167 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:

Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố Phủ Lý, đồng thời kéo theo các tệ nạn xã hội, tội phạm nguy hiểm khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng, bản thân là lao động tự do, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ bán ma túy cho T, T khai khoảng 30 tuổi, không biết địa chỉ ở đâu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên chưa có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:

- Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo Chu Minh T cùng bao gói cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Loncin, BKS 90B1-027.34. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản hợp pháp của T, T đã sử dụng chiếc xe máy làm phương tiện đi mua ma túy cất giấu để sử dụng. Do đó cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ màu vàng. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Chu Minh T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Chu Minh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2018.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì đã niêm phong dán kín mặt trước có G “Mẫu vật hoàn trả QT01, số 91/PC54-MT” của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Loncin, BKS 90B1-027.34, số máy LC152FMG00014201, số khung RRTDCG1UM71000909, sơn màu nâu, xe cũ đã qua sử dụng

- Trả lại bị cáo Chu Minh T một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel vỏ màu vàng.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 19/7/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự TP Phủ Lý).

4. Án phí: Buộc bị cáo Chu Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ