vanban.org

Bản án 103/2018/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 25/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sùng A Ch phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt ổ sung (phạt tiền) đối với ị cáo. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2; điểm khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sồng A Ch - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng A Ch phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 103/2018/HS-ST
Ngày 25 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Kim Dung.

Ông Sòi Ngọc Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Cầm Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2018/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Sùng A Ch, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1976 tại L, Sơn La; Nơi cư trú: Bản D, xã N, huyện L, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Sùng A T(đã chết) và bà: Thào Thị M ; Bị cáo có vợ: Mùa Thị P và có 04 con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2006); Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/12/2017 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Mạnh H– Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Mùa Thị P, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Bản D, xã N, huyện L, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Người phi n dị h ho ị o: nh Thào

h, sinh năm 1999, nơi cư trú: Thôn....., ã K, huyện S, tỉnh Sơn La. C mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 14/12/2017, Tổ công tác Công an huyện R làm nhiệm vụ tại khu vực bản X, xã Phổng Lái, huyện R đã phát hiện bắt quả tang Sùng A Ch (trú tại: D, N, L) đang c hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sùng A Ch. Vật chứng thu giữ: 03 gói nilon bên trong chứa chất bột màu trắng (Ch khai số ma túy trên là Hêrôin, mục đích mua về bán kiếm lời); ngoài ra còn tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER biển kiểm soát 26B2-229.86

Ngày 14/12/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện R đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh ác định trọng lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: 03 gói nilon bên trong có chất bột màu trắng, tổng trọng lượng 64,82 gam.

Gói thứ nhất có trọng lượng 20,79 gam, trích lấy 01 gam ký hiệu C1; Gói thứ hai có trọng lượng 18,80 gam, trích lấy 01 gam ký hiệu C; Gói thứ ba có trọng lượng 25,23 gam, trích lấy 01 gam ký hiệu C5 làm mẫu trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số: 98/KLMT ngày 20/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi gi m định ký hiệu C1, C3, C5 đều là chất ma túy; Loại chất Hêrôin ; Trọng lượng mẫu gửi gi m định là C1 = 1,00 gam, C3 = 1,00 gam, C5 = 1,00 gam; tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 64,82 gam, loại chất Hêrôin;

Quá trình điều tra Sùng A Ch khai nhận:

Khoảng 09 giờ ngày 13/12/2017, Sùng A Ch điều khiển xe máy biển kiểm soát 26B2-229.86 đi từ nhà ở bản D, xã N, huyện L đến nhà Sùng Vả Chớ (anh trai họ) ở bản C, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên để chơi và tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Khoảng 22 giờ cùng ngày thì Ch đến nhà Sùng Vả Chớ. Trong lúc ăn cơm, Ch đặt vấn đề nhờ Chớ tìm mua cho Ch 10.000.000 VNĐ Hêrôin để Ch mang về L bán, Chớ đồng ý. Đến khoảng 23 giờ, Chớ đi ra ngoài một lúc rồi quay lại. Chớ lấy trong người ra 03 g i Hêrôin đưa cho Ch và bảo số ma túy này giá 10.000.000 VNĐ. Ch lấy 10.000.000VNĐ trả cho Chớ rồi cầm 03 gói Hêrôin cất giấu vào trong cốp xe máy của Ch, sau đ Ch ngủ lại nhà Chớ. Khoảng 09 giờ ngày 14/12/2017, Ch điều khiển xe máy chứa ma túy đi theo đường cũ về nhà. Khi đi đến khu vực bản X, xã Phổng Lái, huyện R thì bị phát hiện bắt quả tang

Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, Sùng A Ch khai mua của Sùng Vả Chớ (trú tại: Bản C, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên). Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Sùng Vả Chớ nhưng Chớ không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKS-P1 ngày 03/7/2018 củaViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Sơn La để xét xử bị cáo Sùng A Ch về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, bị cáo Sùng A Ch thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã quy kết.

Kiểm sát viên giữ quan điểm về tội danh, điều luật truy tố và đề nghị:

p dụng điểm b khoản 3 Điều 194 điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, xử phạt bị cáo Sùng A Ch từ 16 đến 17 năm tù về tội Mua án trái ph p chất ma túy

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo và ử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của luật sư Đàm Mạnh Hg - người bào chữa cho bị cáo Sùng A Ch: Nhất trí với tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, sau khi bị bắt và trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, nhận thức c phần hạn chế nên đề nghị Hội đồng t ử ử phạt ị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt và trả lại chiếc e máy đã thu giữ cho gia đình ị cáo, miễn hình phạt ổ sung do gia đình ị cáo hoàn cảnh kh khăn.

Bị cáo Sùng A Ch đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện R, Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Về hành vi phạm tội của bị cáo Sùng A Ch:

Ngày 14/12/2017, Sùng A Ch khi đang c hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy với mục đích đem bán kiếm lời thì bị phát hiện và bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 14/12/2017 đối với Sùng A Ch về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy tại xã Phổng Lái, huyện R, tỉnh Sơn La.

- Kết luận giám định số: 98/KLMT ngày 20/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi gi m định ký hiệu C1, C3, C5 đều là chất ma túy; Loại chất Hêrôin; tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 64,82 gam, loại chất Hêrôin”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo Sùng A Ch tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án thể hiện mục đích ị cáo tìm mua ma túy để bán kiếm lời.

Từ các căn cứ như đã nêu trên c đủ cơ sở kết luận bị Sùng A Ch phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.

Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Sùng A Ch đã c hành vi vận chuyển trái phép 64,82 gam Hêrôin mục đích án kiếm lời đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Hêrôin hoặc cocain có trọng lượng từ a mươi gam đến dưới một trăm gam” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt tù mười lăm năm đến hai mươi năm.

Ngoài hình phạt chính, ị cáo Sùng A Ch còn c thể ị áp dụng hình phạt ổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Song t hoàn cảnh ị cáo kh khăn, không c khả năng thi hành nên không áp dụng hình ổ sung.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Sùng A Ch phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy gây nguy hại lớn cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là trái quy định của pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, tiền chất ma túy nhưng ị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đ , cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo được tính giáo dục cải tạo riêng và răn đe phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Sùng A Ch không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 61,82 gam Hêrôin còn lại sau khi đã trích lấy mẫu giám định, xét là loại hàng nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter màu sơn xanh, đen, ạc có BKS 26B2-229.86 bị thu giữ của Sùng A Ch trong vụ án: Đủ căn cứ ác định đây là tài sản chung hợp pháp của Sùng A Ch và vợ là Mùa Thị P, khi Ch lấy e đi vận chuyển ma túy, chị P không biết. Xét hoàn cảnh gia đình chị P kh khăn, chiếc xe là tài sản có giá trị duy nhất, phục vụ cuộc sống của gia đình nên cần trả lại chiếc xe trên cho chị Mùa Thị P.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Sùng A Ch phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999, xử phạt bị cáo Sùng A Ch 17 (Mười ảy) năm tù. Thời hạn từ tính từ ngày 14/12/2017.

Không áp dụng hình phạt ổ sung (phạt tiền) đối với ị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2; điểm khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 61,82 gam Hêrôin còn lại sau khi đã trích mẫu giám định được niêm phong trong một chiếc phong bì do ưu điện phát hành, được dán kín còn nguyên niêm phong, mặt trước c ghi: “Nhập kho vật chứng cục bột màu trắng nghi là Hêrôin, ký hiệu C2=19,79gam; C4=17,80gam; C6=24,23gam vụ Sùng A Ch - Mua bán trái phép chất ma túy, bị bắt ngày 14/12/2017”. Mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, chữ ký của ……..

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mùa Thị P: 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu YAMAHA, loại e Jupiter, màu sơn anh, đen, ạc có BKS 26B2-229.86, xe có số máy 73131, số khung 039479, e đã cũ, thu giữ của Sùng A Ch trong vụ án.

3. Về án phí: p dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí: Buộc bị cáo Sùng A Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án hoặc niêm yết ản án./.

Cỡ chữ