- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn M - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2026/HS-ST Ngày 28-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Đào Thị Hảo
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Lò Văn M, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2003 tại Sơn La; số CCCD: 014203006089; Nơi thường trú: Bản N, xã Q, tỉnh Sơn La; Nơi ở trước khi bắt: Tổ dân phố 3, phường K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N và bà Lò Thị B; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/10/2025, đến ngày 30/10/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ ngày 24/10/2025, Lò Văn M mượn xe mô tô BKS 15AF - 021.20 của anh Phạm Văn Hiệp (sinh năm 1989, trú tại Tổ dân phố 2, phường Lưu Kiếm, thành phố Hải Phòng) là chủ cơ sở kim khí nơi Lò Văn M làm việc. Sau đó, M điều khiển xe đi đến ngõ 350 Hùng Vương, phường Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mua của người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý Heroin với giá 200.000 đồng. M giấu gói ma túy vào trong túi quần bên phải phía sau, đi về trả xe cho anh Hiệp rồi tiếp tục làm việc. Do được trả tiền công lao động nên đến khoảng 21 giờ cùng ngày, M lại thuê xe ôm chở đến đầu ngõ 350 Hùng Vương, phường Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng rồi đi bộ vào trong ngõ dự định tìm mua thêm 400.000 đồng ma tuý Heroine về để sử dụng dần, khi M đang tìm người bán ma túy thì bị lực lượng Công an phường Hồng Bàng kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ của M 01 gói giấy màu trắng kích thước 2 x 1 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại di động Iphone đã qua sử dụng và số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng).
Xét nghiệm nước tiểu ngày 24/10/2025 của Lò Văn M cho kết quả dương tính với chất ma túy MOP.
Kết luận giám định số 1072/KL-KTHS ngày 29/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn M gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, loại Heroine.
Kết quả kiểm tra, giám định điện thoại Iphone thu giữ của Lò Văn M không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn M không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra, Lò Văn M khai nhận hành vi phạm tội nêu trên và khai: Gói ma túy bị Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ là ma túy do M mua vào sáng ngày 24/10/2025 nhưng vẫn cất trong người chưa sử dụng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
- Chuyển Thi hành án dân sự khu vực 3 – Hải Phòng bảo quản, chờ xử lý: 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1072MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa 0,13 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ gói của mẫu vật sau giám định; 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng và số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng);
- 01 đĩa CD chứa dữ liệu giám định điện thoại chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSND ngày 07/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hải Phòng truy tố Lò Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên toà, bị cáo Lò Văn M khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), xử phạt bị cáo Lò Văn M mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1072MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa 0,13 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ gói của mẫu vật sau giám định; Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng; trả lại bị cáo số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/10/2025, tại khu vực ngách số 3, ngõ 350 đường Hùng Vương, phường Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, Lò Văn M có hành vi cất giữ trái phép ma túy Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Kết luận giám định số 1072/KL-KTHS ngày 29/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn M gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,23 gam, loại Heroine. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Do thu nhập của bị cáo không ổn định nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về việc xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1072MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa 0,13 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ gói của mẫu vật sau giám định; 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng và số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm ngàn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng và số tiền 1.300.000 đồng nhưng tạm giữ 1.300.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lò Văn M, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý. Đối với việc Lò Văn M có kết quả xét nghiệm nước tiểu dương tính với Heroine: Lò Văn M khai nhận trước đó có tự sử dụng ma túy, kết quả xác minh tại địa phương Lò Văn M không phải là đối tượng thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã lập hồ sơ giao cho Công an phường Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn M về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn M 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 24/10/2025.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1072MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa 0,13 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ gói của mẫu vật sau giám định; Trả lại bị cáo 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng và số tiền 1.300.000 đồng nhưng tạm giữ 1.300.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 thành phố Hải Phòng; theo Biên lai số 0001556 ngày 14/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, bị cáo Lò Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Lò Văn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND Khu vực 3 – Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- Công an TP Hải Phòng;
- CQCSĐT Công an TP Hải Phòng;
- Cơ quan THAHS Công an TP Hải Phòng;
- THADS thành phố Hải Phòng;
- Trại tạm giam số 1 Công an TP Hải Phòng;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- PV06 Công an thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Thị Thu Phương
- Lưu hồ sơ vụ án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Ngô Quyền; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Ngô Quyền; - CQĐT Công an quận Ngô Quyền; - Cơ quan THA Hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Phương |