vanban.org

Bản án 102/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.

Xử phạt bị cáo Phan Thế N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/01/2026. Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Thế N 45 ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thế N - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2026/HS-ST
Ngày: 27 - 5 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thúy Hằng

Bà Đặng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Việt Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Phan Thế N, sinh ngày 06 tháng 7 năm 2003, tại tỉnh Quảng Trị; tên gọi khác: Không; nơi ĐKNKTT và chổ ở: Thôn B, xã Đ, tỉnh Quảng Trị; CCCD số: 044203003993; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Ngọc S, sinh năm: 1978, con bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1982; anh chị em ruột: N là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2026 đến nay tại Phân Trại tạm giam Đ, PC11B, Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên toà theo lệnh trích xuất của Tòa án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Bình T, sinh năm: 1999; địa chỉ: Thôn C, xã H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 06/01/2026, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Phan Thế N, sinh năm 2003, trú tại thôn B, xã Đ, tỉnh Quảng Trị, sử dụng máy điện thoại cá nhân “OPPO A5i PRO” đăng nhập vào tài khoản “Thế Ngọc” trên ứng dụng “Messenger” nhắn tin vào tài khoản có tên là “Dương Bình T”của Dương Bình T, sinh năm 1999, trú tại thôn C, xã H, tỉnh Quảng Trị với nội dung “Eng Trọng”. Dương Bình T gọi cho N qua ứng dụng “Messenger” “Hỏi có việc gì”? N trả lời “Có hàng không để cho em ít” (Ý N1 hỏi T mua ma túy hồng phiến). T hỏi lại “Lấy bao nhiêu” thì N1 nói “Lấy một triệu. Đi cầm điện thoại lấy tiền rồi đến lấy hàng”. Phan Thế N đi cầm điện thoại không được nên tiếp tục nhắn tin cho T, Dương Bình T hỏi N “Đang sử dụng điện thoại loại gì” và nói “N lên nhà T cầm cố điện thoại rồi lấy hàng về mà dùng”. Phan Thế N nói “Đang sử dụng điện thoại OPPO A5i PRO”. T đồng ý cầm với giá 1.000.000 đồng. Khoảng 13 giờ 50 phút, Phan Thế N đi bộ đến phía sau nhà T tại thôn C, xã H, tỉnh Quảng Trị, gặp T, N hỏi “Được mấy viên ma túy hồng phiến”, T trả lời “14 viên” rồi chỉ tay về phía bụi cỏ cách chổ N đứng khoảng 05m, nói “Ra đó lấy hàng”. Phan Thế N đi đến thấy phía dưới bụi cỏ có 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “555”, màu xanh dương thì lấy bỏ vào bên trong túi quần phía trước bên trái rồi đi về. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, Phan Thế N đang đi bộ trên đường liên thôn thuộc thôn B, xã Đ, tỉnh Quảng Trị thì bị Công an xã Đ phối hợp với Công an xã H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Tại Kết luận giám định số 42/KL-KTHS ngày 09/01/2026 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A chứa trong 01 túi nilon, được niêm phong bằng 01 phong bì thư, các mép dán kín, mặt sau được niêm phong bằng 03 hình dấu của Công an xã Đ, tỉnh Quảng Trị và chử ký của những người có liên quan gồm: Phan Văn T1, Nguyễn Văn D, Phan Thế N - Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,438 gam.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đã thu giữ:

- 01 phong bì thư dán kín đã được niêm phong số 42/KL-KTHS có các chử ký của Trần Thị Mỹ D1, Nguyễn Ngọc S1, Nguyễn Thế A, và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong phong bì chứa: 1,178 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiện A + Võ bao gói sau giám định.

- 01 bao thuốc lá nhãn hiệu 555.

- 01 bật lửa màu đỏ nhãn hiệu 555 VIP.

- 01 túi nilon màu đỏ được quấn băng keo màu đen.

- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5i PRO, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHON XS MAX, màu trắng, số sêri: G6TXPB42KPH5, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lương bên trong.

Tại bản cáo trạng số 96/CT-VKSKV1-MT ngày 02 tháng 4 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị truy tố bị cáo Phan Thế N ra trước Tòa án nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX, xét xử bị cáo Phan Thế N theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; cần áp dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ cho bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Có ông nội là ông Phan Thanh T2 được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương chiến hạng nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Thế N từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B) năm tù.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì thư dán kín đã được niêm phong số 42/KL-KTHS có các chử ký của Trần Thị Mỹ D1, Nguyễn Ngọc S1, Nguyễn Thế A, và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong phong bì chứa: 1,178 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiện A + Võ bao gói sau giám định.

+ 01 bao thuốc lá nhãn hiệu 555.

+ 01 bật lửa màu đỏ nhãn hiệu 555 VIP.

+ 01 túi nilon màu đỏ được quấn băng keo màu đen.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước các điện thoại: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5i PRO, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHON XS MAX, màu trắng, số sêri: G6TXPB42KPH5, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lương bên trong cho Dương Bình T.

Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu nộp theo quy định của pháp luật.

Quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Phan Thế N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố; bị cáo rất ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp cả về mặt thời gian, địa điểm và diễn biến quá trình phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 06/01/2026, tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn B, xã Đ, tỉnh Quảng Trị. Phan Thế N đang tàng trữ 1,438 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã Đ phối hợp với Công an xã H bắt quả tang. Tại bản Kết luận giám định số 42/2026/KL - KTHS ngày 09/01/2026 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,438gam (một phẩy, bốn trăm ba mươi tám gam).

Như chúng ta đã biết M nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ. Vì vậy, hành vi của Phan Thế N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Quảng Trị đã truy tố.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo Phan Thế N là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sự phát triển của xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm hại chính sách độc quyền của Nhà nước về ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy và tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói chung và xã Đ nói riêng diến biến phức tạp, thủ đoạn hoạt động phạm tội rất tinh vi, xảo quyệt, thường xuyên thay đổi quy luật hoạt động, có nhiều thủ đoạt che giấu, đối phó với các lực lượng chức năng, gây khó khăn đối với công tác phát hiện, đấu tranh bắt giữ.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ sức khỏe, đã từng xuất khẩu lao động ở nước ngoài; đủ nhận thức và hiểu biết pháp luật nhưng không chịu lao động chân chính mà lại ham chơi, đua đòi dẫn đến bị nghiện và lệ thuộc vào ma túy, bị cáo khai rằng mặc dù ở nước ngoài nhưng thỉnh thoảng vẫn sử dụng ma túy để thỏa mãn bản thân. Tại phiên tòa bị cáo trình bày vì ý thức cho rằng mua ma túy với mục đích sử dụng cá nhân. Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt, sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ông nội của bị cáo là ông Phan Thanh T2 được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương chiến hạng nhì vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo không có công việc, không có thu nhập, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để phục vụ nhu cầu cá nhân, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

* Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì thư dán kính đã được niêm phong ghi số 42/2026/KL-KTHS có tên và chữ ký của những người niêm phong Trần Thị Mỹ Dung, Nguyễn Ngọc S1, Nguyễn Thế A và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong phong bì chứa: 1,178 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A và vỏ bao gói sau giám định, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.

+ 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu 555;

+ 01 (một) bật lửa màu đỏ nhãn hiệu 555 VIP;

+ 01 (một) túi nyilon màu đỏ được quấn băng keo màu đen.

* Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5i PRO, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; quá trình tại phiên tòa bị cáo trình bày việc sử dụng điện thoại để nhắn tin mua ma túy và cầm cố được 1.000.000 đồng để mua ma túy, sử dụng.

* Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE XS MAX, màu trắng, số seri: G6TXPB42KPH5, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Đã được làm rõ là T không sử dụng trong việc liên hệ mua ma túy, nên trả lại cho Dương Bình T. [8] Các nhận định khác:

- Về nguồn gốc số mà túy trên, Phan Thế N khai báo là mua của Dương Bình T, sinh năm 1999, trú tại thôn C, xã H, tỉnh Quảng Trị, với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Quá trình điều tra thu giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHON XS MAX, màu trắng, số sêri: G6TXPB42KPH5 của T và thu giữ 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO A5i PRO, màu đen của N, cầm cố cho T lấy 1.000.000 đồng. Sau khi mở kiểm tra tin nhắn qua Messenger của 02 máy điện thoại nhưng không phát hiện nội dung trao đổi mua bán chất ma túy như lời khai của N mà chỉ có nội dung trao đổi cầm cố điện thoại và T cũng không thừa nhận bán ma túy cho N nên không có cơ sở để xác định số ma túy trên là do Dương Bình T bán cho Phan Thế N, nên không xử lý.

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tiến hành xét nghiệm chất ma trúy trong cơ thể đối với Phan Thế N, Dương Bình T kết quả đều âm tính với chất ma túy.

Tại phiên tòa cũng cần nhắc nhở các đối tượng trên trong việc phòng chống tội phạm.

Án phí Hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Bị cáo Phan Thế N phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thế N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Thế N 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/01/2026.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Thế N 45 ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì thư dán kính đã được niêm phong ghi số 42/2026/KL-KTHS có tên và chữ ký của những người niêm phong Trần Thị Mỹ Dung, Nguyễn Ngọc S1, Nguyễn Thế A và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong phong bì chứa: 1,178 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A và vỏ bao gói sau giám định, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.

+ 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu 555;

+ 01 (một) bật lửa màu đỏ nhãn hiệu 555 VIP;

+ 01 (một) túi nyilon màu đỏ được quấn băng keo màu đen.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A5i PRO, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

- Trả lại cho Dương Bình T: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE XS MAX, màu trắng, số seri: G6TXPB42KPH5, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Vật chứng nêu trên hiện có tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/4/2026, giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – tỉnh Quảng Trị).

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

Buộc bị cáo Phan Thế N phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/5/2026). Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ