- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh K - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Minh K.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2026/HS-PT Ngày: 17 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Võ Ngọc Giàu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sátnhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà -Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 70/2026/TLPT-HS ngày 26 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo Lê Minh K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 29/2026/HS-ST ngày 10 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Minh K, sinh ngày 08/02/2004 tại tỉnh Đồng Tháp. Thẻ CCCD: 082204015905; Nơi cư trú: ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Mười M và bà Ngô Thị Cẩm N; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra bản án còn có 03 đại diện theo pháp luật của bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Minh K có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh T (Nay là tỉnh Đồng Tháp ) cấp ngày 23/01/2024 có giá trị không thời hạn. Bị cáo K làm công nhân của Công ty B – Khu công nghiệp L thuộc ấp D, xã T tỉnh Đồng Tháp từ tháng 02 năm 2025.
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 14/6/2025 sau khi tan ca bị cáo K điều khiển xe mô tô biển số 63B2-929.87 lưu thông trên đường N theo hướng cổng số 2 Khu công nghiệp L (Giáp tỉnh lộ 878) đến Công ty TNHH L để về nhà. Khi đến đoạn trước Công ty TNHH L1 thuộc ấp D xã T tỉnh Đồng Tháp thì nhìn thấy bên lề phải theo hướng lưu thông của mình có 01 xe mô tô biển số 63B8-013.04 do chị Đoàn Thị Bích H, sinh ngày 06/11/1976. Trú tại: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp đang điều khiển từ trong cổng Công ty TNHH L qua đường đi về nhà. Tuy nhiên, bị cáo K cho rằng chị H sẽ không điều khiển xe qua đường nên không bóp còi cảnh báo, không giảm tốc độ để xe mình va chạm vào xe chị H. Hậu quả chị H bị chấn thương nặng được đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu, điều trị đến ngày 15/6/2025 thì tử vong. Bị cáo K bị thương nhẹ, 02 xe mô tô hư hỏng.
Sau tai nạn Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường được xác định như sau :
Đường N được trải bê tông bằng phẳng, có dãy phân cách cố định dạng bó vỉa hè, bên trong có đổ đất trồng cấy ở giữa để phân chia thành 02 phần đường, mỗi bên rộng 08 mét, chạy dọc theo hướng Tây sang Đ. Đấu đường N5 được lắp biển báo hạn chế tốc độ 40Km/h và biển “Chú ý xe ra vào thường xuyên”. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn có dãy phân cách mở để 02 chiều xe của 02 phần đường được phép lưu thông qua lại. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn khô ráo, không chướng ngại vật, tầm nhìn không bị che khuất.
- Chọn mép lề đường hướng Nam theo chiều đi của xe mô tô 02 bánh biển số 63B2-929.87 làm chuẩn.
- Vùng va chạm giữa xe mô tô 02 bánh biển số 63B2-929.87 và xe mô tô 02 bánh biển số 63B8-013.04 là nằm trên phần đường hướng Nam, ký hiệu 01. T vùng cách mép lề chuẩn là 2,8 m.
Theo biên bản khám nghiệm xe 63B2 - 929.87 bị hư hỏng như sau:
- Cụm đèn đo tốc độ phía trước bị lệch hở.
- Cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước gãy lệch khỏi vị trí ban đấu.
- Mặt nạ phía trước bị vỡ .
- Dè chắn bùn bánh trước bên trái gãy rời khỏi vị trí ban đầu, trên nền gãy vỡ có vết ma sát màu đen.
- Vành xe bánh trước bên trái bị cong, lốp xe bị xẹp.
- Hai phuộc trước bị lệch khỏi vị trí ban đầu.
- Đầu cao su tay cầm bên phải bị mài mòn kích thước (4 x1,5) cm.
- Đầu tay phanh bên phải bị mài mòn kích thước (0,5x 1) cm.
- Cánh bửng bên phải, trái bị vỡ.
- Ốp bộ phận bảo vệ pô bị mài mòn kích thước (40 x5) cm.
- Gương chiếu hậu 02 bên không có.
Theo biên bản khám nghiệm xe 63B8 - 013.04 bị hư hỏng như sau:
- Ốp nhựa đèn tín hiệu bên phải bị trầy xước không liên tục kích thước (12 x 5) cm.
- Đầu tay cầm bên phải bị mài mòn.
- Cánh bửng chắn gió 02 bên bị lệch hở.
- Gác chân sau bị mài mòn cao su.
- Cần phanh cong vênh theo hướng từ ngoài vào trong.
- Gác chân sau bên phải bị cong theo hướng từ sau về trước.
- Đuôi bộ phận giảm thanhbị mài mòn.
- Cần số bị cong từ trước ra sau.
- Gác chân trước bên trái bị cong từ trên xuống dưới.
- Lốc máy bên trái bị vỡ, hướng từ ngoài vào trong.
- Gương chiếu hậu bên trái bị lệch.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 187/2025/KLGĐTT-TTPY ngày 16/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận nguyên nhân tử vong của Đoàn Thị Bích H: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện hai bán cấu đại não. Xuất huyết liềm đại não. Xuất huyết quanh thể chai. Xuất huyết hai bán cấu tiểu não.Vỡ vòm sọ, sàng sọ do tai nạn giao thông.
Tại bản kết luận giám định số 1074/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đối với đoạn video ghi nhận diễn biến vụ tai nạn kết luận: Không tìm thấy vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin video cần giám định.
Theo kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của bị cáo Lê Minh K do Bệnh viện Đ thực hiện 18 giời 45 phút ngày 14/6/2025 xác định:0,66mmol/L (Theo quyết định số 20/QĐ-BYT ngày 23/01/2024 của bộ Y quy định: “Trị số bình thường nhỏ hơn 10.9mmol/l)
Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2026/HSST ngày 10 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Minh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Minh K 01 (một) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 10 tháng 02 năm 2026, bị cáo Lê Minh K kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Minh K khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xử, đồng thời giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: Thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của đại diện gia đình bị hại; Được đại diện bị hại xin cho giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo. Mặt khác, qua đoạn video có căn cứ xác định bị hại có 01 phần lỗi dẫn đến tai nạn. Với nhiều tình tiết giảm nhẹ như nêu trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Minh K nộp trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Minh K đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản Bản án sơ thẩm đã xử, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 14/6/2025 trên đường N đoạn có dãy phân cách mở thuộc ấp D xã T tỉnh Đồng Tháp bị cáo Lê Minh K trong khi điều khiển xe mô tô biển số 63B2-929.87 đã thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức án toàn dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 63B8-013.04 do chị Đoàn Thị Bích H điều khiển trong cổng Công ty TNHH L bên lề phải ra đường theo hướng lưu thông của xe mô tô biển số 63B2-929.87 gây tai nạn làm chị Đoàn Thị Bích H tử vong. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp xử phạt bị cáo Lê Minh K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Minh K là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tài sản, tính mạng của người bị hại, gây đau thương mất mát, tổn thất tinh thần cho gia đình người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương, án sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Lê Minh K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu. Đại diện gia đình người bị hại có đơn xin bãi nại, xin cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo. Mặt khác, qua đoạn video, hình ảnh thu thập được có trong hồ sơ, có căn cứ xác định người bị hại có một phần lỗi, khi sang đường thiếu chú ý quan sát đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp bổ sung xác nhận của chính quyền địa phương, nội dung: Chấp hành tốt trong cuộc sống tại địa phương; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ bị bệnh không lao động nặng được; Bị cáo là công nhân, là lao động chính trong gia đình chăm lo cho cha, mẹ và em gái còn nhỏ đang đi học. Bên cạnh đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại cấp sơ thẩm cũng đã đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Thấy rằng mức án trên là có phần nghiêm khắc so với hành vi và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng. Do vậy, xét thấy bị cáo đủ điều kiện để được áp dụng Điều 54 và được giảm nhẹ một phần hình phạt. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử quyết định sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Minh K.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 29/2026/HSST ngày 10 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp.
Tuyên bố bị cáo Lê Minh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Minh K 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Lê Minh K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; (1) - VKSND tỉnh Đồng Tháp; (1) - Phòng hồ sơ CA tỉnh Đồng Tháp; (1) - TAND khu vực 3 - Đồng Tháp; (2) - VKSND khu vực 3 - tỉnh Đồng Tháp; (1) - THADS tỉnh Đồng Tháp; (1) - Bị cáo;(1) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Trung Hiếu |