vanban.org

Bản án 102/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị T - Nguyễn Văn C"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 14/04/2026
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vàng

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Lê Thị Thúy Kiều

Ông Bùi Chí Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận Phát, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.

Trong ngày 14 tháng 04 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 59/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2026 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 161/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 09 tháng 03 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh ngày: 08/11/1996. (Vắng mặt)

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày: 14/06/2023.

Địa chỉ: Ấp P, xã L, thành phố Cần Thơ

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh ngày 30/12/1992. (Vắng mặt)

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ: Ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện lập ngày 20/01/2026, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Văn C có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn ngày 13/05/2016 tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ).

Thời gian đầu vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì tình cảm vợ chồng sức mẽ, bất đồng quan điểm trong lối sống, xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị và anh C đã ly thân từ cuối tháng 12/2018 cho đến nay. Chị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Đồng thời xin được vắng mặt khi xét xử.

Về con chung: Chị T và anh Nguyễn Văn C không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn: chị T không yêu cầu xem xét.

2/ Bị đơn anh Nguyễn Văn C: Anh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T nhưng anh C không có ý kiến phản đối, cũng không đến Tòa án tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C cư trú tại ấp T, xã P, thành phố Cần Thơ, ngoài ra không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề gì. Nên Tòa án xác định loại kiện “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Về vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thị T vắng mặt nhưng có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn anh Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn C là những người có đầy đủ điều kiện kết hôn, ngày 13/05/2016 chị T và anh C tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh C là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh C, theo chị T cho rằng chị T và anh C tình cảm vợ chồng sức mẽ, bất đồng quan điểm trong lối sống, xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị và anh C đã ly thân từ cuối tháng 12/2018 cho đến nay. Nên chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn C. Anh C không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị T, bỏ mặc quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị T. Xét thấy, nền tảng của mối quan hệ hôn nhân vững chắc là việc vợ chồng yêu thương nhau, quan tâm, chăm sóc nhau, tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Trong cuộc sống vợ chồng của chị T và anh C đã không còn sự quan tâm, thương yêu dành cho nhau, không còn tin tưởng nhau, mâu thuẫn giữa chị T và anh C là trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Theo chị T cho rằng giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn C không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn: Các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 của Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Trần Thị T phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003094 ngày 12/02/2026 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Anh Nguyễn Văn C không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

2/ Về con chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

3/ Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4/ Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị T phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Thạch Thị T1 được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003094 ngày 12/02/2026 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Anh Nguyễn Văn C không phải chịu án phí.

5/ Quyền kháng cáo: Các đương sự đều vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

6/ Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ