- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ T - tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – GIA LAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2026/HNGĐ-ST Ngày: 09-4-2026 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Trị.
2. Ông Trần Văn Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4- Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2026/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1985 (có mặt); CCCD số: xxxxxxxxxxxx; HKTT: Khối Hòa L, xã TS, tỉnh Gia Lai.
Hiện trú: 130 Trần Quang D, xã TS, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Xuân T1, sinh năm 1986; CCCD số: xxxxxxxxxxxx (Vắng mặt lần 02).
Trú tại: Khối Hòa L, xã TS, tỉnh Gia Lai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ T trình bày: bà và ông Huỳnh Xuân T1 kết hôn tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện TS, tỉnh Bình Định (cũ) vào ngày 17/4/2015. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do khó khăn về kinh tế, vợ chồng bất đồng nhiều trong quan điểm sống dẫn đến cãi vã thường xuyên. Mặc dù bà đã cố gắng tiếp tục chung sống nhưng tình hình không tiến triển (bà đã nộp Đơn ly hôn một lần nhưng đã rút đơn). Vợ chồng đã cắt đứt quan hệ, sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nên ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu ly hôn ông T1.
Về con chung: bà và ông Huỳnh Xuân T1 có 02 con chung là: Huỳnh Nguyễn Anh T2 (nam) sinh ngày 12/10/2015 và Huỳnh Nguyễn Anh T3 (nam) sinh ngày 22/6/2018. Hiện 2 con đang sống cùng ông T1. Khi ly hôn bà yêu cầu giao 02 con chung cho ông T1 nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với mức 3.700.000đ/02con/tháng.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn là ông Huỳnh Xuân T1 vắng mặt không có lý do: ông Huỳnh Xuân T1 đã được tống đạt hợp lệ (trực tiếp) Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 phát biểu:
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đa phần là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.
Về quan điểm giải quyết vu ̣ án: đề nghi ̣ HĐXX áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên xử: bà Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn ông Huỳnh Xuân T1. Về con chung: Giao 02 con chung Huỳnh Nguyễn Anh T2 (nam) sinh ngày 12/10/2015 và Huỳnh Nguyễn Anh T3 (nam) sinh ngày 22/6/2018 cho ông Huỳnh Xuân T1 nuôi dưỡng đến trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: công nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Mỹ T, bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức 1.850.000đ/con/tháng, từ tháng 4/2026 đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn là ông Huỳnh Xuân T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ T với ông Huỳnh Xuân T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện TS, tỉnh Bình Định (cũ) vào ngày 17/4/2015 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do khó khăn về kinh tế, vợ chồng lại bất đồng nhiều trong quan điểm sống, dẫn đến hai bên thường hay cãi vã, bất hòa. Bà T đã nộp Đơn ly hôn một lần nhưng đã rút đơn, nhưng sau khi về chung sống thì tình hình không tiến triển mà mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng trầm trọng, dẫn đến đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được (bà T và ông T1 đã cắt đứt quan hệ từ năm 2023 đến nay). Do vậy, việc bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có căn cứ và phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.
Về con chung: bà T và ông T1 có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Anh T2 (nam) sinh ngày 12/10/2015 và Huỳnh Nguyễn Anh T3 (nam) sinh ngày 22/6/2018 hiện đều đang sống cùng ông T1. Khi ly hôn bà T yêu cầu giao 02 con chung cho ông T1 tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành.
HĐXX xét thấy: yêu cầu của bà T là phù hợp với nguyện vọng của 02 con chung (cả T2 và T3 đều muốn sống cùng cha), phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ, nghị nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.850.000đ/con/ tháng. Xét đây là sự tự nguyện của bà T, phù hợp với quy định tại các Điều 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Án phí ly hôn: cần buộc bà Nguyễn Thị Mỹ T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước.
- Án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng: bà T phải nộp 300.000đ.
Lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ T:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ T được ly hôn ông Huỳnh Xuân T1.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Anh T2 (nam) sinh ngày 12/10/2015 và Huỳnh Nguyễn Anh T3 (nam) sinh ngày 22/6/2018 cho ông Huỳnh Xuân T1 nuôi dưỡng đến trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Mỹ T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung với mức 1.850.000đ/tháng/con, bắt đầu thực hiện từ tháng 4/2026 cho đến khi hai con chung (T2 và T3) đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.
2/ Về án phí sơ thẩm:
- Án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai số 0000074 ngày 06/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai;
- Án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng: bà Nguyễn Thị Mỹ T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
3/ Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
4/ Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
Trong T1 hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND khu vực 4; - THA dân sự khu vực 4; - UBND xã TS; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Giang Nam |