vanban.org

Bản án 102/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 02/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2025/HS-ST
Ngày 02-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cát và bà Tô Thị Kim Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Xuân Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại 02 điểm cầu:

+ Điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử số 3 Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, địa chỉ: Ô đất A-VP, Khu C, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội;

+ Điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam số 1 Công an thành phố H, địa chỉ: Ngõ G P, quận N, thành phố Hà Nội.

Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2025/TLST-HS ngày 28/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN XUÂN H, sinh năm 1970; ĐKHKTT: Xóm T, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân N (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Đỗ Thị Thu H1 (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 17/12/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam số 2 Công an thành phố H; có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đào Q, sinh năm 1999; nơi cư trú: Đ, thôn C, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Mạnh Đ, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 10/10/2024, Nguyễn Xuân H lên mạng xã hội để tìm mua ma túy tổng hợp dạng đá để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm tiền lời. H đăng nhập ứng dụng Telegram đăng ký bằng số điện thoại của H là 0842049899 để tìm kiếm người bán ma túy. H tìm thấy tài khoản của một người nam giới không quen biết có rao bán ma túy nên đã hỏi mua của người này ma túy đá với số tiền 1.000.000 đồng. Người nam giới yêu cầu H chuyển khoản tiền trước nhưng H nói với người bán ma túy khi nào nhận được ma túy sẽ thanh toán tiền mặt. Người nam giới đồng ý. H gửi cho người bán ma túy địa chỉ nhận ma túy tại cửa hàng H3 của mình tại Số A đường V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, có một người nam giới không quen biết đi xe máy đến trước cửa hàng cắt tóc của H đưa cho H 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá. H cầm túi ma túy và lấy 1.000.000 đồng đưa cho người nam giới. Sau khi mua được ma túy, H đã xóa toàn bộ thông tin trên ứng dụng T1 và mang số ma túy vừa mua được về nhà tại xóm T, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. H lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại H cất trong ví mang theo người với mục đích có ai hỏi mua sẽ bán lại với giá 1.000.000 đồng.

Đến khoảng 15 giờ 12 phút, ngày 16/12/2024, khi H đang làm việc tại cửa hàng địa chỉ: Số A đường V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội thì có anh Đ1 Quang Hữu nhắn tin từ tài khoản zalo “Q” đến tài khoản zalo của H “Hùng B” hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá của H, H đồng ý. H2 yêu cầu H ship ma túy đến cho một người có tên là Q có số điện thoại 0969502820, địa chỉ nhận ma túy tại Chung cư S, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. H nhắn tin cho H2 gửi số tài khoản của mình 21410002140654 tại Ngân hàng B1. Đến khoảng 17 giờ 55 phút cùng ngày, H nhận được 1.000.000 đồng do H2 chuyển đến số tài khoản của H. Hữu chụp và gửi qua zalo cho H hình ảnh giao dịch chuyển tiền. H lấy 01 túi nilon ma túy đá cất giấu trong ví ra dùng băng dính quấn ngoài dán vào dưới đáy hộp sữa “Fami” màu vàng rồi để vào trong hộp giấy dán băng dính kín, trên mặt hộp giấy có ghi nội dung: “Chung cư S, ĐT 0969502820 To: Q” và để vào túi màu đỏ in nhãn hiệu Canifa. H sử dụng ứng dụng G1 đặt ship đồ đến địa chỉ Chung cư S cho người có số điện thoại 0969502820 tên Q nhận. Khoảng 18 giờ 40 phút cùng ngày, anh Bùi Văn C, là shipper G1 sử dụng số điện thoại 0394773921 gọi cho H nói đã đến cửa hàng Hùng T2 nhận đồ ship. H đi ra ngoài cửa và mang theo hộp giấy chứa ma túy đưa cho C và nói: Em cầm lọ nước hoa giao cho bạn Q ở bên Toà nhà SME Hoàng G có số điện thoại anh ghi trên hộp giấy. Anh C nhận hộp giấy chứa ma túy mà H đưa và đi giao hàng. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi anh C đang đứng tại trước sảnh Chung cư S, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội để giao ma túy thì bị Tổ công tác Công an phường Q trong quá trình làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính phát hiện, kiểm tra thu giữ vật chứng là 01 hộp giấy kích thước (10x18)cm, có ghi dòng chữ Chung cư S ĐT 0969502820 To: Q, trong hộp giấy có 01 túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng kích thước (2x2)cm được dính băng dính dưới đáy hộp nhãn hiệu Fami nghi là ma túy tổng hợp dạng đá.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, anh Đào Quang H2 đến khu vực trước Chung cư S, phường Q, quận H được một lúc thì thấy bạn là anh Lê Quốc A, sinh năm 1998; nơi thường trú: Phố Gốt, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội đi xe grab đến. Trong khi anh H2 và anh Quốc A đang đứng chờ người ship ma túy đến thì bị Công an phường Q kiểm tra hành chính. Anh H2 khai với Tổ công tác là đang đặt mua ma túy và chờ ship tới nên lực lượng Công an đưa anh H2 và anh Quốc A về Công an phường Q để làm rõ vụ việc.

Ngày 17/12/2024, H biết được tin anh C bị Công an phường Q kiểm tra thu giữ số ma túy mà H bán cho anh H2 nên H đã đến Công an phường Q xin đầu thú, khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời giao nộp 01 điện thoại di động.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của anh Bùi Văn C: 01 túi đỏ in nhãn hiệu Canifa bên trong có hộp giấy kích thước (10x18)cm, có ghi dòng chữ Chung cư S ĐT 0969502820 To: Q, bên trong hộp giấy có 01 túi nilon kích thước (2x2)cm chứa các hạt tinh thể màu trắng được dán băng dính dưới đáy hộp nhãn hiệu Fami nghi là ma túy tổng hợp dạng đá và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, bên trong lắp sim số thuê bao 0394773921;

- Thu giữ của anh Đ1 Quang Hữu: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, bên trong lắp sim số thuê bao 0337551172;

- Thu giữ của anh Lê Quốc A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, bên trong lắp sim số thuê bao 0969502820;

- Thu giữ của Nguyễn Xuân H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, bị vỡ vỏ sau, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0842049899.

Kết luận giám định số 8828/KL-KTHS ngày 24/12/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,423 gam.

Ngày 17/12/2024, Cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét khẩn cấp số 2046/LKX-CQĐT tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân H tại Xóm T, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội nhưng không thu giữ đươc gì liên quan đến vụ án. Trong giai đoạn điều tra, Nguyễn Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 48/CT-VKS-HĐ ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội luận tội cho rằng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận tội phù hợp các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên giữ nguyên nội dung truy tố. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy. Bị cáo có nhận thức đầy đủ về hành vi của mình nhưng vì hám lợi đã thực hiện hành vi trái pháp luật, cần xử lý nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước điện thoại tạm giữ của bị cáo và anh Đào Quang Hữu; truy thu của bị cáo số tiền 1.000.000 đồng hưởng lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy để sung vào ngân sách Nhà nước; tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa ma túy, 01 túi vải, 01 hộp giấy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời, ngày 10/10/2024, Nguyễn Xuân H thông qua ứng dụng Telegram thỏa thuận mua của một người nam giới không quen biết 01 túi nilon chứa ma túy loại Methamphetamine với số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H khai đã lấy một ít ma túy ra để sử dụng. Đến ngày 16/12/2024, thông qua tin nhắn zalo, H đồng ý bán cho anh Đ1 Quang Hữu số ma túy còn lại với số tiền 1.000.000 đồng, hẹn giao ma túy tại Chung cư S, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Sau khi nhận được tiền do anh H2 chuyển khoản, H sử dụng ứng dụng G1 đặt vận chuyển đơn hàng là túi hàng chứa ma túy đến giao theo yêu cầu của anh H2. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi anh Bùi Văn C là shipper G1 đang đứng tại trước sảnh Chung cư S, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội để chờ giao túi hàng chứa ma túy thì bị kiểm tra hành chính, thu giữ vật chứng 01 túi nilon chứa 0,423 gam Methamphetamine.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân H là mua bán trái phép chất ma túy, thỏa mãn dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy. Căn cứ khối lượng ma túy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời, hành vi của bị cáo đã góp phần làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng, cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo thành người làm ăn chân chính; đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào hình phạt tù, cứ mỗi ngày tạm giữ, tạm giam được tính trừ một ngày tù.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Cơ quan điều tra thu giữ một số vật chứng:

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, bên trong lắp sim số thuê bao 0394773921 thu giữ của anh Bùi Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, bên trong lắp sim số thuê bao 0969502820 thu giữ của anh Lê Quốc A, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra đã trả cho anh C và anh Quốc A là có căn cứ.

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, bị vỡ vỏ sau, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0842049899 thu giữ của Nguyễn Xuân H: kết quả điều tra xác định H đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, bên trong lắp sim số thuê bao 0337551172 thu giữ của anh Đ1 Quang Hữu không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại anh H2.

+ Đối với 01 túi nilon chứa 0,423 gam Methamphetamine thu giữ của anh Bùi Văn C, Cơ quan giám định trích mẫu 0,066gam. Số ma túy còn lại được cho vào 01 phong bì niêm phong dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Bùi Văn C, cán bộ Công an Nguyễn Văn P, giám định viên Nguyễn Hồng Q1 (BL52, 53). Xét thấy, ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 túi vải màu đỏ, có in dòng chữ Canifa; 01 hộp giấy trên bề mặt có ghi “Chung cư S, ĐT 0969502820 To: Quốc”, là đồ vật bị cáo H sử dụng để cất giấu túi ma túy khi vận chuyển giao cho người mua. Xét thấy, là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Bị cáo Nguyễn Xuân H nhận số tiền 1.000.000 đồng của anh Đ1 Quang Hữu thông qua việc anh H2 chuyển vào tài khoản Ngân hàng của H, xác định là tiền bị cáo hưởng lợi bất chính khi bán ma túy, cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền này đã được Cơ quan điều tra phong tỏa theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 2223/LPT-ĐCSMT ngày 30/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội và đã được Ngân hàng TMCP Đ2 Chi nhánh Đ3 thực hiện phong tỏa ngày 13/01/2025.

Về các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Nguyễn Xuân H khai số ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ là do H mua của một người nam giới không quen biết qua phần mềm Telegram. Sau khi mua được ma túy, H đã xóa toàn bộ nội dung giao dịch mua bán ma túy nên H không biết tên tuổi, địa chỉ của người bán ma túy. Ngoài lời khai của H không có tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

- Đối với hành vi sử dụng chất ma túy của Nguyễn Xuân H: Công an quận H đã ra quyết định xử lý hành chính đối với H.

- Đối với anh Đào Quang H2 là người hỏi mua ma túy của H: kết quả điều tra xác định anh H2 đã chuyển khoản cho H tiền mua ma túy, mục đích mua ma túy để sử dụng nhưng chưa nhận được ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh H2.

- Đối với anh Lê Quốc A là bạn của anh H2: kết quả điều tra xác định anh Quốc A không biết việc anh H2 mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

- Đối với anh Bùi Văn C: là lái xe ôm công nghệ đã vận chuyển ma túy đến cho anh H2, kết quả điều tra xác định anh C không biết túi hàng mà H thuê chở là ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí; bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

- Tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, bị vỡ vỏ sau, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0842049899 thu giữ của Nguyễn Xuân H.

+ Số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng trong tài khoản của Nguyễn Xuân H, số tài khoản 21410002140654 tại Ngân hàng TMCP Đ2. Số tiền này Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 2223/LPT-ĐCSMT ngày 30/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội và đã được Ngân hàng TMCP Đ2 Chi nhánh Đ3 thực hiện phong tỏa ngày 13/01/2025 (theo Công văn số 34/BIDV.ĐHN-QLRR ngày 14/01/2025 của Ngân hàng TMCP Đ2 Chi nhánh Đ3 v/v thông báo phong tỏa tài khoản tiền gửi thanh toán).

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong dán kín (chứa ma túy), tại các mép dán có chữ ký của anh Bùi Văn C, cán bộ Công an Nguyễn Văn P, giám định viên Nguyễn Hồng Q1;

+ 01 túi vải màu đỏ, có in dòng chữ C1;

+ 01 hộp giấy trên bề mặt có ghi “Chung cư S, ĐT 0969502820 To: Q”.

- Trả anh Đào Quang H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu tím, bị rạn nứt mặt kính sau, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0337551172.

Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Xuân H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 02/4/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (phường, thị trấn) nơi đương sự cư trú, hoặc cư trú cuối cùng.

Cỡ chữ