- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2025/HS-ST Ngày: 25/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Thành Nam;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nga;
2. Bà Nguyễn Thị Chấn.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K – Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2025/TLST–HS ngày 11 tháng 06 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-HS ngày 12/6/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Q, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 và con bà: Lương Thị T, sinh năm 1968; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; Vợ: Bùi Thị H, sinh năm 1997 (Đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2014; Danh chỉ bản số 0021, lập ngày 16/01/2025 tại Công an huyện K, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ra đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 05/01/2025 đến ngày 14/01/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
*Người bị hại:
1. Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1988; ĐKHKTT: Thôn Thôm Bó, xã V, huyện M, tỉnh Bắc Kạn (Đã chết).
2. Anh Bùi Thế L, sinh năm 1978; ĐKHKTT: xã B, huyện Q, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt tại phiên tòa).
*Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991 (em gái anh Nguyễn Đình T); ĐKHKTT: Thôn Thôm Bó, xã V, huyện M, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1985 (là anh trai của bị hại Nguyễn Đình T); ĐKHKTT: Thôn Thôm Bó, xã V, huyện M, tỉnh Bắc Kạn. (Vắng mặt tại phiên tòa).
(Chị T ủy quyền cho anh H tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền số 33 ngày 17/4/2025 của UBND xã V)
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; ĐKHKTT: xã Đồng Phong, huyện Q, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt tại phiên tòa)
- Công ty TNHH một thành viên dịch vụ vận tải P; Người đại diện theo pháp luật: Anh Hà Xuân W, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Tổ 16, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng M, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh L tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 04/01/2025, Nguyễn Văn T, sinh năm 1996, ĐKHKTT: Thôn Lạng Uyển, Đồng Phong, Q, Ninh Bình điều khiển xe ô tô BKS: 29H-886.87 đi trên đường Lý Thánh Tông theo chiều QL5 hướng đường Giáp T, khi đi đến ngã 3 chuyển hướng vào đường gom cao tốc Hà Nội - T Phòng thuộc địa phận xã Đa Tốn, huyện K, thành phố Hà Nội do không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo để đầu xe bên pt ô tô do T điều khiển đâm vào xe mô tô BKS: 35N1-425.83 do anh Bùi Thế L, sinh năm 1978, ĐKHKTT: B, Q, Ninh Bình điều khiển, phía sau chở anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1988, ĐKHKTT: Thôn Thôm Bó, V, M, Bắc Kạn lưu thông cùng chiều.
Hậu quả: Anh L bị thương, cụt chân pt được đưa đi bệnh viện cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang, sau chuyển Bệnh viện Việt Đức còn anh T bị thương tích nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang và tử vong cùng ngày.
Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn T: - 01 xe ô tô BKS: 29H - 886.87; - 01 Giấy phép lái xe hạng D số: 260145012306 mang tên Nguyễn Văn T; - 01 bản sao Giấy chứng nhận đăng ký ô tô BKS: 29H-886.87; - 01 Giấy chứng nhận thế chấp của Ngân hàng thương mại TNHH MTV dầu khí Toàn Cầu (GPBank) số 49/2024/PTHD;
- 01 Giấy chứng nhận kiểm định ô tô BKS: 29H-88687, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS số 0120944. 01 xe mô tô BKS: 35N1-425.83.
Ngày 04/01/2024, Nguyễn Văn T ra đầu thú tại Cơ quan CSĐT – Công an huyện K.
* Về hiện W vụ tai nạn giao thông:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là ngã 3 đường Lý Thánh Tông theo hướng Quốc lộ 5 đi Giáp T giao với đường gom cao tốc Hà Nội - T Phòng hướng đi Long Biên. Đoạn đường Lý Thánh Tông rộng 11,20m được chia làm 03 làn xe chạy, tính từ trái qua pt theo chiều đi làn đường thứ nhất rộng 4m00, làn đường thứ 2 rộng 3m60, làn đường thứ 3 rộng 3m60 được phân chia với nhau bằng vạch sơn ngắt quãng màu trắng. Đoạn đường được trải nhựa thẳng, phẳng, tổ chức một chiều xe chạy (chiều Quốc lộ 5 đi hướng đường Giáp T). Đi theo hướng bên tay pt là trục đường gom cao tốc Hà Nội - T Phòng (hướng K đi Long Biên).
- Lấy đầu mỏm vạch phân chia dòng phương tiện theo một hướng phía trước đầu xe ô tô làm mốc hiện W;
- Lấy mép trái đường Lý Thánh Tông chiều từ Quốc lộ 5 đi về đường Giáp T làm mép đường chuẩn;
Theo sơ đồ hiện W các vị trí dấu vết, phương tiện, nạn nhân như sau:
1 - Vị trí vết cày xước mặt đường dài 19,00m: Đầu vết cày trên trục đường Lý Thánh Tông hướng đường Quốc lộ 5, đo đầu vết cày vào mép đường chuẩn được 8,90m; điểm cuối vết cày là đầu bàn để chân trước bên pt xe mô tô BKS: 35N1 - 425.83 đổ trên đường.
2 - Vị trí vùng mảnh vỡ vỏ nhựa xe mô tô và tổ chức cơ thể người vương vãi trên đường diện 10,0m x 5,50m. Đầu vết hướng đường Quốc lộ 5, điểm cuối của vết hướng xe ô tô BKS: 29H - 886.87. Đo điểm đầu vết này về hướng Quốc lộ 5 được 2m00 là tới ngang điểm đầu vết cày xước mặt đường (Ký hiệu 1).
3 - Vị trí xe ô tô tải BKS: 29H - 886.87 sau tai nạn đỗ trên đường, đầu xe hướng đường Giáp T, đuôi xe phía Quốc lộ 5. Đo đầu trục trước bên trái xe ô tô cách mép đường chuẩn là 11,30m; đo đầu trục sau cùng bên trái xe cách mép đường chuẩn là 9,60m. Đo đầu trục trước bên trái xe ô tô về hướng Giáp T được 3,00 m là đến ngang đầu vạch sơn phân chia dòng phương tiện theo một hướng.
4 - Vùng máu nạn nhân có diện 8,40m x 4,20m, tập trung nhiều ở dưới gầm xe ô tô, giữa trục 1 với trục 2 ô tô BKS: 29H - 886.87.
5 - Đo từ tâm trục trước bên trái xe ô tô BKS: 29H - 886.87 về hướng đường Giáp T được được 0m70 là tới ngang tâm trục sau xe môtô BKS: 35N1-425.83 đổ nghiêng trái trên đường. Đầu xe hướng đường Giáp T, đuôi xe hướng đường Quốc lộ 5. Đo đầu trục trước xe mô tô vào mép đường chuẩn được 13m20, đo đầu trục sau vào mép đường chuẩn được 13m50.
6 - Mốc hiện W là đầu mỏm vạch sơn phân chia dòng phương tiện.
* Về giám định dấu vết trên phương tiện liên quan:
Kết L giám định số 169/KL-KTHS ngày 07/02/2025 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết L:
Cơ quan CSĐT đã T hành trưng cầu giám định dấu vết va chạm trên các phương tiện liên quan đến Viện khoa học hình sự Bộ Công an. Ngày 07/02/2025, Viện khoa học hình sự - BCA có kết L như sau:
1. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm và dấu vết va chạm đầu tiên giữa xe ôtô biển số 29H-886.87 với xe môtô biển số 35N1-425.83.
a. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa xe ôtô biển số 29H-886.87 với xe môtô biển số 35N1-425.83.
Dấu vết trượt, bám dính chất màu nâu (dạng gỉ sắt) và chất màu đen ở mặt ngoài bên pt khung kim loại phía trước gầm đầu xe ôtô biển số 29H -886.87 có chiều từ trước về sau (ảnh 4, 6 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước, mất gỉ sắt màu nâu và chất màu đen ở mặt dưới bàn để chân trước bên trái xe môtô biển số 35N1-425.83 (khi xe môtô này đồ nằm nghiêng bên pt xuống đường). Dấu vết va chạm ở xe môtô biển số 35N1-425.83 tại vị trí này có chiều từ dưới lên trên (ảnh 5, 7 trong bản ảnh giám định).
b. Không xác định được dấu vết va chạm đầu tiên giữa xe ôtô biển số 29H-886.87 với xe môtô biển số 35N1-425.83.
2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm còn lại trên xe ôtô biển số 29H-886.87 và xe môtô biển số 35N1-425.83.
a. Dấu vết va chạm còn lại trên xe ôtô biển số 29H-886.87.
- Dấu vết trượt, in hình các đường song song (dạng vân vải) ở mặt ngoài bên pt chắn đà trước, mặt ngoài đầu bên pt khung kim loại phía trước gầm xe ôtô biển số 29H-886.87 có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với bề mặt vải (dạng quần, áo,...) (ảnh 8, 9 trong bản ảnh giám định).
- Các dấu vết khác ở xe ôtô biển số 29H-886.87 được ghi nhận trong biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông của Công an huyện K hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm nên không đủ yếu tố giám định.
b. Dấu vết va chạm còn lại ở xe môtô biển số 35N1-425.83.
- Dấu vết gãy vỡ, biến dạng, trượt xước, bám dính chất màu đen (dạng cao su) ở mặt ngoài bên trái ốp nhựa đuôi xe, mặt ngoài bên trái tay nâng phía sau xe môtô biển số 35N1- 425.83 có chiều từ bên trái sang bên pt xe. Dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với lốp xe (ảnh 10, 11 trong bản ảnh giám định).
- Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài bên pt cung trước chắn bùn bánh trước, mặt ngoài bên pt ốp nhựa đầu xe, mặt ngoài đầu tay phanh bên pt, mặt ngoài đầu bàn đạp phanh chân, mặt ngoài đầu bàn để chân trước, mặt ngoài phía sau ốp bảo vệ ống xả, mặt ngoài bên pt tay nâng phía sau xe môtô biển số 35N1-425.83 có chiều từ bên pt sang bên trái xe. Các dấu vết này có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với bề mặt cứng nhám (dạng bê tông, mặt đường,…) (ảnh 12, 13, 14, 15, 16, 17 trong bản ảnh giám định).
- Các dấu vết khác ở xe môtô biển số 35N1-425.83 được ghi nhận trong biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông của Công an huyện K hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm nên không đủ yếu tố giám định.
* Về khám nghiệm, giám định pháp y tử thi nạn nhân:
Cơ quan CSĐT- Công an huyện K đã T hành trưng cầu pháp y tử thi đối với nạn nhân Nguyễn Đình T, bản kết L giám định pháp y tử thi số 66/38/KLGĐTT-TTPY ngày 21/01/2025 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết L:
1. Các kết quả chính:
Kết quả khám nghiệm:
- Nhiều vết sây sát, bầm tím, rách da vùng cằm, vùng bụng, mạn sườn pt, vùng lưng, thắt lưng hai bên, hai tay và chân pt do: Va chạm với vật tày gây nên.
- Vùng Ngực - Bụng va chạm với vật tày, tày có cạnh lực tác động rất mạnh gây:
+ Gãy cung sau xương sườn IX, X bên pt.
+ Bầm tụ máu cung sau cơ liên sườn hai bên.
+ Hố ngực pt có 300ml máu.
+ Rách phổi pt.
+ Ổ bụng có 200ml máu.
+ Vỡ phức tạp gan.
+ Tụ máu bao thận hai bên.
+ Vỡ thận pt.
+ Tụ máu mạc treo và cơ hoành.
Kết quả xét nghiệm, giám định khác:
- Kết L Giám định mô bệnh học:
+ Dập phổi, chảy máu nhu mô phổi.
+ Dập gan, dập thận.
- Kết L Giám định độc chất:
+ Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Đình T giám định: Không tìm thấy Ethanol, Methanol.
+ Mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Đình T giám định: Không tìm thấy các chất ma túy kể trên.
2. Kết L: Kết L nguyên nhân chết: Nạn nhân Nguyễn Đình T, sinh năm 1988 tử vong do: Chấn Thương ngực, bụng nặng.
* Về thương tích của anh Bùi Thế L:
Sau vụ việc xảy ra, anh Bùi Thế L bị thương tích pt đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức. Cơ quan điều tra đã Trưng cầu giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể của anh Bùi Thế L. Kết L giám định số 493/KLTTCT-TTPY ngày 06/5/2025 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Hà Nội kết L về thương tích của anh Bùi Thế L:
Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
* Các kết quả chính
- Cắt 1/3 dưới xương đùi pt: 65%.
* Kết L:
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Bùi Thế L tại thời điểm giám định là: 65% (Sáu mươi lăm phần trăm). Áp dụng tại thông tư số 22/2019/TT-BYT.
* Kết L khác:
- Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của anh Bùi Thế L do vật tày, tày có cạnh va chạm trực tiếp tạo thành.
- Các vật có thể là lốp xe ô tô, mặt đường cứng…
Quá trình điều tra xác định được nội dung vụ án: Nguyễn Văn T (Có giấy phép lái xe ô tô hạng D theo quy định), T ký hợp đồng lái xe ô tô thuê cho Công ty TNHH một thành viên dịch vụ vận tải P; địa chỉ: Số 12A đường 3.7/8 KĐT Gamuda Gardens, phường Trần Phú, quận Hoàng M, TP. Hà Nội, do ông Hà Xuân W, sinh năm 1977 làm Giám đốc, theo Hợp đồng lao động số 05/KP-HĐLĐ/2025 thời hạn đến ngày 31/12/2025. Khoảng 06 giờ ngày 04/01/2025, T được công ty TNHH một thành viên dịch vụ vận tải P giao điều khiển xe ô tô tải BKS: 29H- 886.87 chở nước uống đóng thùng đi từ trụ sở Công ty ở Hoàng M, Hà Nội đến giao hàng ở Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên. Sau khi giao hàng xong, khoảng 10 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô về Công ty TNHH một thành viên dịch vụ vận tải P đi trên đường Lý Thánh Tông theo chiều Quốc lộ 5A hướng đi đường Giáp T thuộc địa phận xã Đa Tốn, K, Hà Nội, đường được phân chia thành 3 làn đường giữa các làn có vạch sơn đứt quãng, T đi ở làn thứ 2, khi đi đến ngã 3 giao nhau, T đi với vận tốc 40km/h, mật độ tham gia giao thông bình thường, chuyển hướng sang làn thứ 3 để rẽ pt vào đường gom cao tốc Hà Nội - T Phòng, do không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên không phát hiện thấy anh Bùi Thế L, sinh năm: 1978, HKTT: B, Q, Ninh Bình điều khiển xe mô tô BKS: 35N1-425.83 (có giấy phép lái xe hợp lệ), phía sau chở anh Nguyễn Đình T, sinh năm: 1988, HKTT: Thôn Thôm Bó, V, M, Bắc Kạn lưu thông phía trước cùng chiều dẫn đến mặt ngoài bên pt chắn đà trước va vào xe và người anh T làm cho xe mô tô đổ bên pt dẫn đến mặt ngoài bên pt khung kim loại phía trước gầm đầu xe ô tô va chạm với mặt dưới bàn để chân trước bên trái xe mô tô hậu quả bánh trước xe ô tô do T điều khiển chèn qua người anh T dẫn đến tử vong sau tai nạn và chèn qua đùi pt anh L bị thương pt đi khám và điều trị tại Bệnh viện Việt Đức.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T cùng ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968, HKTT: Đồng Phong, Q, Ninh Bình là bố đẻ bị cáo T và anh Hà Xuân W là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ vận tải P đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Đình T, số tiền là 190.000.000đồng và bồi thường cho anh Bùi Thế L số tiền là 240.000.000đồng. Anh Nguyễn Đình H, sinh năm: 1985, trú tại: thôn Thôm Bó, V, M, Bắc Kạn (Là anh trai của nạn nhân T) và anh L đã nhận đủ số tiền trên, có đơn xin miễn giảm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn T và không yêu cầu bồi thường gì khác.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 35N1-425.83, quá trình điều tra xác định chủ xe là anh Bùi Thế L. Ngày 27/5/2025 Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho anh L, anh L đã nhận lại chiếc xe trên và không yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với chiếc xe ô tô tải BKS: 29H-886.87, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH MTV dịch vụ vận tải P. Ngày 16/4/2025 Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe
trên
cho
anh
Hà
Xuân
W
- Giám đốc Công ty TNHH MTV dịch vụ vận tải P và không yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng D số 260145012306 mang tên Nguyễn Văn T, hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Trong vụ tai nạn giao thông trên, lỗi và nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông thuộc về Nguyễn Văn T, khi điều khiển xe ô tô BKS: 29H – 886.87 khi tham gia giao thông khi đến ngã 3 thì chuyển hướng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn đã vi phạm khoản 2 Điều 15 của Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Anh Bùi Thế L và anh Nguyễn Đình T không có lỗi.
Tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện K, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số 94/CT-VKSGL, ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T ra trước tòa về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận vào khoảng 10 giờ ngày 04/01/2025 bị cáo đã có hành vi điều khiển xe ô tô BKS: 29H - 886.87 tham gia giao thông đi trên đường Lý Thánh Tông theo chiều Quốc lộ 5A hướng đường Giáp T, đi ở làn đường thứ hai. Khi đi đến ngã 3 chuyển hướng sang làn thứ 3 để đi vào đường gom cao tốc Hà Nội - T Phòng hướng đi Long Biên thuộc địa phận xã Đa Tốn, K, Hà Nội do không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, để mặt ngoài bên pt chắn đà trước xe ô tô BKS: 29H - 886.87 do bị cáo điều khiển đâm vào xe mô tô BKS : 35N1-425.83 do anh Bùi Thế L (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe chở phía sau chở anh Nguyễn Đình T lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả làm cho anh Nguyễn Đình T tử vong sau tai nạn, anh Bùi Thế L bị cụt 1/3 chân dưới xương đùi pt, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%.. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tác động đến gia đình và Công ty TNHH MTV dịch vụ vận tải P bồi thường cho gia đình người bị hại của anh Nguyễn Đình T số tiền là 190.000.000 đồng và bồi thường cho anh Bùi Thế L số tiền là 240.000.000đồng tổng số tiền là 240.000.000 đồng. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Nguyễn Đình H (Là anh trai của người bị hại Nguyễn Đình T) có đơn trình bày: Anh Nguyễn Đình H cùng gia đình đã nhận đủ số tiền bồi thường dân sự 190.000.000 đồng do bị cáo T và gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh T. Anh H không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự. Anh H đã có đơn, ý kiến xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay. Ngoài ra anh H không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Người bị hại anh Bùi Thế L có đơn trình bày: Anh Bùi Thế L đã nhận đủ số tiền bồi thường dân sự 240.000.000 đồng do bị cáo T và gia đình bị cáo đã bồi thường. Anh L không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự. Anh L đã có đơn, ý kiến xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay. Ngoài ra anh L không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản Cáo trạng số 94/CT-VKSGL ngày 03/06/2025. Trong phần L tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án phạt tù từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2025. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng D; số: 260145012306 mang tên Nguyễn Văn T;
Đối với chiếc xe ô tô tải BKS: 29H-886.87, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH MTV dịch vụ vận tải P. Ngày 16/4/2025 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe
trên
cho
anh
Hà
Xuân
W
- Giám đốc Công ty TNHH MTV dịch vụ vận tải P và không yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với chiếc xe mô tô BKS: 35N1- 425.83, quá trình điều tra xác định chủ xe là anh Bùi Thế L. Ngày 27/5/2025 Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho anh L, anh L đã nhận lại chiếc xe trên và không yêu cầu, đề nghị gì.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T và gia đình cùng Công ty TNHH dịch vụ vận tải P đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại của anh Nguyễn Đình T số tiền là 190.000.000 đồng và bồi thường cho anh Bùi Thế L số tiền là 240.000.000đồng. Anh H là đại diện hợp pháp của bị hại và anh L đã có đơn, ý kiến xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay. Ngoài ra anh H, anh L không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Bị cáo T sau khi nghe quan điểm L tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung. Bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận hành vi “Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ“ dẫn đến gây tử vong cho anh T và thương tật cho anh L của mình là sai, vi phạm pháp luật. Ngoài ra bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh L gì khác với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh L tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến, lời khai của người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người bị hại đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tại Cơ quan điều tra, Công an huyện K, người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người bị hại đã có lời khai, sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. (BLTTHS)
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T, người đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với lời khai trong biên bản hỏi cung của bị cáo tại Cơ quan điều tra; sơ đồ hiện W, bản ảnh, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, các bản kết L giám định và các biên bản, tài liệu, chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội được Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ, ngày 04/01/2025 bị cáo đã có hành vi điều khiển xe ô tô; BKS: 29H - 886.87 tham gia giao thông đi trên đường Lý Thánh Tông theo chiều Quốc lộ 5A hướng đường Giáp T, đi ở làn đường thứ hai. Khi đi đến ngã 3 chuyển hướng sang làn thứ 3 để đi vào đường gom cao tốc Hà Nội - T Phòng hướng đi Long Biên thuộc địa phận xã Đa Tốn, huyện K, thành phố Hà Nội do không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, để mặt ngoài bên pt chắn đà trước xe ô tô BKS: 29H - 886.87 do bị cáo điều khiển đâm vào xe mô tô BKS: 35N1- 425.83 do anh Bùi Thế L (Có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe chở phía sau chở anh Nguyễn Đình T lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả làm cho anh Nguyễn Đình T tử vong sau tai nạn, anh Bùi Thế L bị cụt 1/3 chân dưới xương đùi pt, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tác động đến gia đình và Công ty TNHH MTV dịch vụ vận tải P bồi thường cho gia đình người bị hại của anh Nguyễn Đình T số tiền là 190.000.000 đồng và bồi thường cho anh Bùi Thế L số tiền là 240.000.000đồng tổng số tiền là 240.000.000 đồng. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết L: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự .
. Cơ quan CSĐT- Công an huyện K đã T hành trưng cầu pháp y tử thi đối với nạn nhân Nguyễn Đình T, tại bản kết L giám định pháp y tử thi số 66/38/KLGĐTT-TTPY ngày 21/01/2025 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết L nguyên nhân chết: Nạn nhân Nguyễn Đình T, sinh năm 1988 tử vong do: Chấn thương ngực, bụng nặng.
. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiển sát: Khẳng định nội dung bản Cáo trạng số số 94/CT-VKSGL ngày 03/6/2025 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn T ra trước tòa án ngày hôm nay về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T như nội dung bản Cáo trạng đã công bố tại phiên toà. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, bị cáo nhận tội và thận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo thừa nhận vào khoảng 10 giờ ngày 04/01/2025 bị cáo đã có hành vi điều khiển xe ô tô BKS: 29H - 886.87 tham gia giao thông đi trên đường Lý Thánh Tông theo chiều Quốc lộ 5A hướng đường Giáp T, đi ở làn đường thứ 02. Khi đi đến ngã 3 chuyển hướng sang làn thứ 3 để đi vào đường gom cao tốc Hà Nội - T Phòng hướng đi Long Biên thuộc địa phận xã Đa Tốn, huyện K, thành phố Hà Nội do không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, để mặt ngoài bên pt chắn đà trước xe ô tô BKS: 29H - 886.87 do bị cáo điều khiển đâm vào xe mô tô BKS: 35N1-425.83 do anh Bùi Thế L (Có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe chở phía sau chở anh Nguyễn Đình T lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả làm cho anh Nguyễn Đình T tử vong sau tai nạn, anh Bùi Thế L bị cụt 1/3 chân dưới xương đùi pt, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
. Đánh giá tính chất vụ án: Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ. Đồng thời xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác, đây là những khách thể được bộ luật hình sự quy định và bảo vệ. Bị cáo điều khiển xe ô tô do không tuân thủ các quy tắc an toàn, không đi đúng phần đường quy định, thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không làm chủ tay lái. Hậu quả làm cho anh Nguyễn Đình T tử vong sau tai nạn, đây là hậu quả nghiêm trọng gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân mà không có gì bù đắp được; anh Bùi Thế L bị cụt 1/3 chân dưới xương đùi pt, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%. Hành vi của bị cáo thực hiện là lỗi vô ý. Bị cáo không mong muốn và tin hậu quả không xảy ra nhưng hậu quả đáng tiếc đã xảy ra. Lỗi và nguyên nhân gây ra tai nạn thuộc về bị cáo T. Hành vi này của bị cáo đã gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông trên địa bàn huyện K nói riêng và trong cả nước nói chung đang ở mức cao, tai nạn giao thông xảy ra hết sức phức tạp. Với hành vi phạm tội của mình bị cáo Nguyễn Văn T pt chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với người phạm tội mà còn có tác dụng răn đe, giáo dục chung trong cộng đồng. Đây cũng là bài học cảnh tỉnh những ai khi tham gia giao thông còn coi thường luật lệ, an toàn giao thông, coi thường tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác.
. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã nhanh chóng gọi xe cứu thương đưa người bị hại đến bệnh viện để cấp cứu, tuy nhiên do vết thương quá nặng nên người bị hại đã tử vong sau tai nạn. Sau đó, bị cáo đã đến Cơ quan Công an huyện K để trình báo sự việc. Nhận thấy phần lỗi của mình đã gây đau thương, mất mát cho gia đình người bị hại nên bị cáo đã tác động đến gia đình và Công ty nơi bị cáo làm việc chủ động đến chia buồn cũng như thực hiện bồi thường cho đại diện gia đình người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra truy tố, xét xử, quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung, năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS, bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, hành vi vi phạm về quy định tham gia giao thông đường bộ của bị cáo đã làm chết người là anh Nguyễn Đình T và gây tổn thương cơ thể làm cho anh Bùi Thế L pt cắt 1/3 dưới xương đùi pt, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa, chống tội phạm chung.
. Về phần trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Nguyễn Văn T đã tác động đến gia đình và Công ty nơi bị cáo làm việc để tự nguyện thoả thuận thống nhất việc bồi thường dân sự với gia đình của người bị hại là anh Nguyễn Đình T số tiền là 190.000.000 đồng và bồi thường cho anh Bùi Thế L số tiền là 240.000.000 đồng. Anh H là đại diện hợp pháp của bị hại là nạn nhân Nguyễn Đình T và anh L đã có đơn, ý kiến xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo T. Ngoài ra anh H, anh L không có ý kiến hay yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết;
Đối với ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968, HKTT: Đồng Phong, Q, Ninh Bình là bố đẻ bị cáo T và anh Hà Xuân W là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ vận tải P đã tự nguyện bồi thường số tiền bồi thường cho gia đình người bị hại là anh Nguyễn Đình T số tiền là 190.000.000 đồng và bồi thường cho anh Bùi Thế L số tiền là 240.000.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo T pt hoàn trả khoản tiền này. Tại phiên tòa, ông T và anh W không có yêu cầu, đề nghị gì khác về số tiền này đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét, giải quyết;
. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng D; số: 260145012306 mang tên Nguyễn Văn T;
- Đối với chiếc xe ô tô tải; BKS: 29H-886.87, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH MTV dịch vụ vận tải P. Ngày 16/4/2025 Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe
trên
cho
anh
Hà
Xuân
W
- Giám đốc Công ty TNHH MTV dịch vụ vận tải P. Sau khi nhận lại xe không anh W không yêu cầu, đề nghị gì về tài sản đã nhận nên HĐXX không xem xét, giải quyết;
- Đối với chiếc xe mô tô BKS: 35N1-425.83, quá trình điều tra xác định chủ xe là anh Bùi Thế L. Ngày 27/5/2025 Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếc xe trên cho anh L, anh L đã nhận lại chiếc xe trên và không yêu cầu, đề nghị gì về tài sản đã nhận nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ nhưng không thuộc W hợp đặc biệt nghiêm trọng và bản thân bị cáo hiện nay là lao động chính trong gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 260 của BLHS là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm đối với bị cáo.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo pt chịu án phí hình sự sơ thẩm. theo quy định của pháp luật. Bị cáo; người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung, năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/01/2025.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 BLHS.
- Trả lại giấy tờ cho bị cáo: Trả lại 01 Giấy phép lái xe hạng D; số: 260145012306 mang tên Nguyễn Văn T (Theo biên bản giao nhận giấy tờ ngày 25/06/2025 giữa Toà án nhân dân huyện K và bị cáo Nguyễn Văn T).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, nộp, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T pt nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vắng mặt người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
W hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pt thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - Tòa án nhân dân TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện K, TP. Hà Nội; -UBND xã Đồng Phong, huyện Q, tỉnh Ninh Bình (Thay cho thông báo kết quả xét xử); - THADS huyện K; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiêntòa Đoàn Thành Nam |