- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 102/2025/HS-ST Ngày 12 – 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân : Bà Lò Thị Thành; bà Cầm Thị Tươi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Q1 định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tòng Văn Q1 - Sinh ngày 26/12/1998 tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản CX, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Tòng Văn TH và bà: Tòng Thị C (đã chết), mẹ kế là Quàng Thị T; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: không; Tiền án: Tại bản án số 51/2018/HSST ngày 16/3/2018 của Toà án nhân dân huyện S xử phạt Tòng Văn Q1 06 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tính đến ngày phạm tội trong vụ án này chưa được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/02/2025 đến ngày 26/02/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 17/02/2025, tổ công tác Công an xã C đến nhà Tòng Văn Q1 tiến hành xác minh trường hợp nghi sử dụng trái phép chất ma tuý, quá trình làm việc tổ công tác phát hiện tại túi quần bên trái phía trước của Q1 đang mặc có 01 mảnh giấy bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 01 gói nilon màu trắng có chứa chất bột liên kết màu trắng (Q1 khai nhận là Heroine). Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.
Ngày 18/02/2025, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Sông Mã tiến hành mở niêm xác định khối lượng, trích mẫu giám định vật chứng thu giữ của Q1, kết quả: “… Cân tách bì chất bột liên kết màu trắng có trong gói nilon màu trắng có tổng khối lượng là 0,30 gam. Trích toàn bộ 0,30 gam làm mẫu giám định ký hiệu là Q.
Kết luận giám định số 358/KL-KTHS ngày 21/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
“ Mẫu ký hiệu Q gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 52/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiến chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,30gam.
Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,30 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 52/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiến chất”.
Quá trình điều tra bị cáo Tòng Văn Q1 khai nhận:
Khoảng 12 giờ ngày 15/02/2025 Q1 mang theo số tiền 300.000đ là tiền do lao động, tiết kiệm mà có bắt xe Buýt từ nhà tại bản CX, xã C, huyện Sông Mã đến bản Liên Phương xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã thì xuống xe rồi xin đi nhờ xe máy của một người qua đường đến bản Bướm Ỏ, xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La thì Q1 xuống xe đi bộ vào trong bản tìm mua ma tuý, trên đường đi Q1 gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết và hỏi mua được của người ngày 300.000đ được 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa Heroine. Sau khi mua được ma tuý Q1 bắt xe Buýt về nhà, đến nhà Q1 trích một ít sử dụng, số còn lại gói lại giấu vào trong túi quần đang mặc, đến khoảng 16 giờ ngày 17/02/2025 bị tổ công tác Công an xã C phát hiện bắt quả tang thu giữ niêm phong toàn bộ vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKSSM ngày 19/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố bị cáo Tòng Văn Q1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội đối với bị cáo, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tòng Văn Q1 từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 02 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo
Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Q1 định của Cơ quan, Người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q1 định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, Q1 định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Về tài liệu, chứng cứ xác định tội danh:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 17/02/2025 đối với Tòng Văn Q1 cùng với vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 358/KL-KTHS ngày 21/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu giám định Q là ma tuý, loại Heroine; … Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,30 gam…”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi pham tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 17/02/2025, Tòng Văn Q1 có hành vi cất giấu trái phép 0,30 gam ma tuý loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân là đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố và Toà án nhân dân huyện Sông Mã xét xử đối với bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về tội phạm ma tuý nay lại tiếp tục phạm tội do vậy bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc mở bên trong có 01 mảnh giấy bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, 01 mảnh nilon màu trắng đã được lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.
Vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với người đàn ông cho bị cáo đi nhờ xe đến địa điểm tìm mua ma tuý bị cáo không nói với người này biết mục đích đi nhờ xe để tìm mua ma tuý và bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với người dân tộc Mông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng làm rõ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là dân tộc thiểu số sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo xin được miễn án phí theo quy định, do vậy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Q1 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
Q1 ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn Q1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Tòng Văn Q1 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 02 năm 2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Q1 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/6/2025)./.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND cùng cấp; - Công an xã C; - Thi hành án Dân sự; - Thi hành án HS; - Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam - Bị cáo; - Lưu Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hà Thị Điệp |