vanban.org

Bản án 102/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 19/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 323; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 17, Điều 58, khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn H.

* Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn H và Nông Văn Ngphạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. * Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Ng09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng, Ngọc - chứa chấp TS - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: Khoản 1 Điều 323; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 17, Điều 58, khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ M
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102/2024/HSST.
Ngày: 19/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ M - TỈNH H

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Khải và ông Phan Xuân Hùng

Thư ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Hùng- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M, tỉnh H tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã M là điểm cầu trung tâm và phòng xét xử trực tuyến thuộc trại tạm giam công an tỉnh Lạng Slà điểm cầu thành phần mở phiên toà công khai sơ thẩm, xét xử theo hình thức trực tuyến đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

1- Đinh Văn H- Sinh năm: 1989 tại tỉnh L; Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã Q, huyện Tr, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;Họ và tên cha: Hứa Thanh T, Họ và tên mẹ: Đinh Thị H; Họ và tên vợ: H Thị Th, sinh năm 1990; Có 02 con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Nhân thân: Ngày 15/12/2013 bị Công an huyện Tr, tỉnh L xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự cộng cộng .

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/8/2024 đến ngày 17/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú xã Q, huyện Tr, tỉnh L. Có mặt tại phiên toà.

2- Nông Văn Ng- Sinh năm: 1987 tỉnh L; Hộ khẩu thường trú: Thôn Th, xã Q, huyện Tr, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nông Tài Kh; Họ và tên mẹ: Nông Thị Gi; Họ và tên vợ: Nông Thị Bích L, sinh năm 1986; Có có 02 con lớn sinh năm 2009, nhỏ 2015.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Nhân thân:

- Ngày 9/8/2016 đến ngày 10/8/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tr, tỉnh L xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc.

- Ngày 21/11/2024 bị Toà án nhân dân tỉnh Lạng S xử phạt 01 năm tù về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép (Bản án chưa có hiệu lực pháp luật)

Bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Lạng Strong vụ án Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép. Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Chị Phạm Thị Trà M - Sinh năm 2001

Địa chỉ: Thôn Ph, xã Đ, huyện Ân Th, tỉnh H.

2- Chị Nguyễn Thị Vân A – Sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn Th, xã Q, huyện Tr, tỉnh L

(Toàn bộ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 04/6/2024 chị Phạm Thị Trà M, sinh năm 2001 hộ khẩu thường trú ở thôn Ph, xã Đ, huyện Ân Th, tỉnh H dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH mode sơn màu bạc đen biển số 89AC- 035.07, số khung: RLHJK0112PZ230246, số máy: JK01E0589766 ở trước cửa số nhà 177 đường Nguyễn Thiện Thuật, tổ dân phố Phố Nối, phường B, thị xã M, tỉnh H thì bị trộm cắp tài sản. Chị Mi đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M. Ngày 30/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 82 về tội Trộm cắp tài sản để tiến hành điều tra theo thẩm quyền.

Cuối năm 2023 H có quen biết một người đàn ông Trung Quốc tên Hải không rõ họ tên đệm, tuổi, địa chỉ làm nghề chở hàng thuê cho các chủ hàng người Trung Quốc ở khu vực mốc biên giới. Khoảng giữa tháng 6/2024 Hải gọi Wechat cho H nhờ vận chuyển 01 chiếc xe mô tô đến khu vực mốc biên giới và trả tiền công là 600 nhân dân tệ tương ứng với 2.000.000 tiền Việt Nam đồng. H đồng ý và cho Hải số điện thoại. Đến khoảng 22 giờ ngày 17/6/2024 H nhận được điện thoại gọi đến qua ứng dụng Wechat (không xác định được số điện thoại) nói là người của Hải và bảo H cho địa chỉ để anh ta mang xe môtô đến để H vận chuyển cho Hải. H hẹn người này ở đường đi vào thôn Cao Lan, xã Q, Huyện Tr, tỉnh L. Sau đó H điều khiển xe mô tô biển số 12P1- 161.18 một mình đến địa điểm trên. Khoảng 15 phút sau có 02 thanh niên không rõ họ tên, tuổi địa chỉ điều khiển 02 xe mô tô trong đó có 01 thanh niên đi xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH mode sơn màu bạc đen gắn biển số 89F1-468.65 thanh niên còn lại đi một xe mô tô không rõ đặc điểm. Gặp H, thanh niên đi xe SH dựng chân chống xe và nói chìa khóa xe để trong cốp rồi lên xe mô tô của thanh niên đi cùng rời đi. Lúc này H biết xe mô tô này là do phạm tội mà có vì xe không có giấy đăng ký, đối tượng hẹn giao xe vào đêm khuya, nhưng H vẫn đồng ý nhận. H dắt xe mô tô vào bụi cây gần ngôi nhà hoang cất giấu rồi gọi Wechat cho Hải khi nào vận chuyển được xe thì sẽ thông báo. H gọi zalo cho Nông Văn Ngvà điều khiển xe mô tô 12P1- 161.18 đến nhà Ng nhờ Ng đi cùng để mang chiếc xe mô tô SH vừa nhận về nhà Ng cất giấu thì Ng đồng ý. Ng biết rõ xe là do phạm tội mà có vì H không có chiếc xe trên, xe không có đăng ký, giấu trong bụi cây gần ngồi nhà hoang nhưng Ng vẫn đồng ý mang xe về nhà cất giấu. Ng tháo biển số xe 89F1-468.65 để trên nóc tủ nhà Ng. Đến khoảng 03 giờ 20 phút ngày 11/7/2024, Ng sử dụng chiếc xe mô tô SH nêu trên chở một người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam thì bị bộ đội Biên phòng Pò Mã phối hợp với Công an xã Q, Huyện Tr phát biện bắt giữ. Ng đã bị Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Skhởi tố về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự và chuyển vụ án, đối tượng Ng cùng vật chứng đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sthụ lý điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sđã trưng cầu giám định số khung, số máy xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH sơn màu bạc đen mà Ng sử dụng làm phương tiện phạm tội. Kết quả số khung, số máy là số nguyên thủy, không phát hiện dấu vết cắt hàn tẩy xóa, đóng lại. Tiến hành tra cứu xác định xe mô tô nêu trên chính là vật chứng thuộc vụ án Trộm cắp tài sản do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M, tỉnh H đang thụ lý giải quyết. Ngày 23/7/2024 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sđã có văn bản thông báo và bàn giao vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Ngày 07/8/2024 H đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. H tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5 5G, màu đen bên trong lắp 02 sim điện thoại và chiếc xe mô tô biển số 12P1- 161.18.

Ngày 17/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M tiến hành khám xét chỗ ở của Đinh Văn H kết quả: Không thu giữ được đồ vật tài liệu gì. Khám xét chỗ ở của Nông Văn Ngkết quả thu giữ: Tại nóc tủ gỗ kê ở đầu giường của Ng có 01 chiếc biển số xe mô tô 89F1- 468.65.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 39/KL- HĐ ngày 04/7/2024 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thị xã M kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH mode màu bạc đen, biển số 89AC- 035.07 tại thời điểm ngày 04/6/2024 là 53.300.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 349/KL- KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Không đủ cơ sở kết luận giám định BKS: 89F1-648.65 có phải là biển số thật hay không do biển mẫu so sánh không đủ điều kiện giám định.

Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu biển số 89F1- 468.65 xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Tuyết Chinh, sinh năm 2000 hộ khẩu thường trú ở tổ dân phố Sài Phi, phường Minh Đức, thị xã M. Chị Chinh khai chiếc biển số nói trên được lắp ở chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH đăng ký tên chị. Tối ngày 04/6/2024 chị Chinh dựng chiếc xe ở trước cửa hàng thuốc Long Châu ở số 78, Trịnh Đình Cửu, phường Định Công, quận H Mai, thành phố Hà Nội thì kẻ giam chiếm đoạt. Chị Chinh đã trình báo Công an phường Định Công, quận H Mai, thành phố Hà Nội.

Ngày 17/8/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại chị Phạm Thị Trà M chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon da loại SH sơn màu bạc đen. Chị Mi nhận lại tài sản và tự nguyện không yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm về tài sản cũng như chi phí xin cấp lại biển số xe.

Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon da loại Dream biển số 12P1- 161.18 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Vân Anh (là chị dâu của H) cho vợ chồng H mượn. Ngày 24/10/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vân Anh chiếc xe mô tô nói trên. Chị Vân Anh nhận lại chiếc xe không yêu cầu đề nghị gì.

Bản cáo trạng số: 88/CT-VKSMH ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố các bị cáo Đinh Văn H và Nông Văn Ngvề tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có theo qui định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17, Điều 58, khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn H.

Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn Ng.

Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn H và Nông Văn Ngphạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn H 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm đến 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo H cho UBND xã Q, Huyện Tr, tỉnh Lạng Sgiám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Ng09 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Trách nhiệm dân sự không phải giải quyết.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về vật chứng, án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Bị cáo H và bị cáo Ng thực hiện hành vi Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có tại thôn Cao Lan, xã Q, Huyện Tr, tỉnh L, tuy nhiên chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH sơn màu bạc đen là vật chứng thuộc vụ án Trộm cắp tài sản do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M, tỉnh H đang thụ lý giải quyết. Do đó, ngày 23/7/2024 Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Lạng Sđã có văn bản thông báo và bàn giao vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Vì vậy, các bị cáo bị cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã M khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Viện kiểm sát nhân dân thị xã M truy tố các bị cáo và Toà án nhân dân thị xã M đưa vụ án ra xét xử các bị cáo là đúng qui định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã M và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

- Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau và phù hợp khách quan với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá, kết luận giám định, biên bản khám xét, vật chứng đã thu giữ; Phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 25 phút ngày 17/6/2024 tại thôn Cao Lan, xã Q, Huyện Tr, tỉnh L, Đinh Văn H cùng với Nông Văn Ngkhông hứa hẹn trước và biết rõ xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode sơn màu bạc đen gắn biển số 89F1- 468.65 trị giá 53.300.000 đồng là tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vẫn tạo điều kiện về địa điểm, cất giữ, bảo quản tại nhà ở của Ng tại Thôn Th, xã Q, huyện Tr, tỉnh L, sau đó thì bị phát hiện. Viện kiểm sát nhân dân thị xã M đã truy tố các bị cáo Đinh Văn H và Nông Văn Ngvề tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo qui định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến đến quyền tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay cho những hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Vụ án có đồng phạm tham gia xét vai trò của từng bị cáo thì thấy:

Bị cáo H là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Ng và là người trực tiếp cùng bị cáo Ng cất giữ, bảo quản tại nhà ở của Ng tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó hình phạt giành cho bị cáo phải cao hơn bị cáo Ng.

Bị cáo Ng là người trực tiếp mang xe về nhà cất giữ, bảo quản, bị cáo trực tiếp tháo biển kiểm soát của xe cất đi để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có nhưng bị cáo H vì tư lợi của bản thân mà cố ý phạm tội, bị cáo Ng mặc dù không được H hứa hẹn lợi ích nhưng bị cáo vẫn đồng ý để chiếc xe mô tô tại nhà mình và đã sử dụng chiếc xe vào hành vi phạm tội khác. Do đó cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo.

- Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H đầu thú, có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương, hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; Ông ngoại của bị cáo Ng là liệt sỹ nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ động cơ, mục đích, tính chất của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo thì thấy: Bị cáo H ngày 15/12/2013 bị Công an Huyện Tr, tỉnh Lạng Sxử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự cộng cộng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 97/HSST ngày 21/11/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sđã xử phạt bị cáo Nông Văn Ng01 năm tù về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép (Bản án chưa có hiệu lực pháp luật). (Bị cáo sẽ bị tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số: 97/HSST ngày 21/11/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Skhi bản án có hiệu lực pháp luật). HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Ng ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo H do có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe và giáo dục đối với bị cáo và có tính chất ngăn ngừa chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên toà cho thấy các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

- Trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chị Phạm Thị Trà M chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon da loại SH sơn màu bạc đen. Chị Mi nhận lại tài sản và tự nguyện không yêu cầu đề nghị bồi thường nên HĐXX không xét.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon da loại Dream biển số 12P1- 161.18 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Vân Anh (là chị dâu của H) cho vợ chồng H mượn. Chị Vân Anh không biết H sử dụng để phạm tội, do đó cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vân Anh chiếc xe mô tô nói trên. Chị Vân Anh nhận xe không yêu cầu đề nghị gì, nên HĐXX không xét.

- Về vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5 5G, màu đen là tài sản của H đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội sẽ cho tịch thu sung quĩ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ 02 sim điện thoại.

Đối với chiếc biển kiểm soát 89F1 – 648.65 là tài sản của chị Nguyễn Thị Tuyết Chinh được lắp ở chiếc xe mô tô nhãn hiệu SH đăng ký tên chị. Do chiếc xe bị kẻ gian chiếm đoạt tối ngày 04/6/2024 ở số 78, Trịnh Đình Cửu, phường Định Công, quận H Mai, thành phố Hà Nội, chị Chinh đã báo công an phường Định Công, quận H Mai, thành phố Hà Nội nhưng chưa tìm được, nay chị không có nhu cầu nhận lại chiếc biển kiểm soát nên sẽ cho tịch thu tiêu huỷ.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Đối với hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH mode sơn màu bạc đen biển số 89AC- 035.07 xảy ra ngày 04/6/2024 ở trước cửa số nhà 177 đường Nguyễn Thiện Thuật, tổ dân phố Phố Nối, phường B, thị xã M, tỉnh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền. Do chưa xác định được bị can mà thời hạn đã hết nên ngày 29/10/2024 Cơ quan điều tra Công an thị xã M đã có Quyết định tách vụ án Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 04/6/2024 để giải quyết theo qui định của bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ: Khoản 1 Điều 323; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 17, Điều 58, khoản 1,2 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Văn H.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn Ng.

* Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn H và Nông Văn Ngphạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

* Xử phạt: Bị cáo Nông Văn Ng09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành bản án.

(Bị cáo sẽ bị tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số: 97/HSST ngày 21/11/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Skhi bản án có hiệu lực pháp luật).

* Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh Văn H cho UBND xã Q, Huyện Tr, tỉnh Lạng Sgiám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

* Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno5 5G, màu đen.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 biển kiểm soát số 89F1 – 648.65 nền biển trắng, chữ số màu đen và 02 sim điện thoại.

(Tình trạng đặc điểm các vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 tại chi cục thi hành án dân sư thị xã M).

* Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đinh Văn H và Nông Văn Ngmỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ