- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn K - Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2024/HS-ST Ngày 25 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Minh.
Ông Đỗ Thế Anh.
Thư kí phiên tòa: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử công Ki vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Văn K, sinh ngày 26/8/1986 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện An Dương, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn K, sinh năm 1960, con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961, có vợ là Nhữ Thị H, sinh năm 1993 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 14/12/2023, tạm giam từ ngày 20/12/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 22 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, Công an xã An Đồng huyện An Dương trong khi làm nhiệm vụ tại tại thôn Cái Tắt, xã An Đồng, huyện An Dương phát hiện Đỗ Văn K có nhiều biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi áo khoác của K 01 túi nilon màu trắng kích thước 03cm x 03cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, K Ki là ma túy (mẫu QT01) và 01 chiếc điện thoại di động Oppo màu xanh. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời đưa K và vật chứng về trụ sở công an giải quyết.
Khám xét nơi ở của Đỗ Văn K không thu giữ được gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 14/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng xác định: Đỗ Văn K dương tính với test thử chất ma túy, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 1025/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: tinh thể màu trắng của mẫu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,90 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Văn K khai nhận: Khoảng hơn 21 giờ ngày 13/12/2023, K gọi điện cho Nguyễn Công Quyền, sinh năm 1985, trú tại thôn Cái Tắt, xã An Đồng, huyện An Dương qua số điện thoại 0901151466 hỏi mua ma túy đá để sử dụng, Quyền đồng ý. K đi xe ôm của một người không quen biết đến cổng Bệnh viện Việt Tiệp 2 rồi đi bộ vào nhà Quyền ở gần đó mua 1.000.000 đồng và được Quyền đưa cho 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá. K giấu túi ma túy vào bên trong túi áo đang mặc rồi đi bộ ra đầu đường thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ cùng vật chứng. Trước đó K đã từng mua ma túy của Quyền, chiếc điện thoại thu giữ của K là điện thoại K sử dụng để gọi cho Quyền khi mua ma túy.
Tại bản Cáo trạng số: 117/CT-VKS ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố Đỗ Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Đỗ Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và nội dung Cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Văn K mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý còn lại sau giám định; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động Oppo màu xanh.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ xác định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, Đỗ Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,90 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng bị bắt quả tang tại thôn Cái Tắt, xã An Đồng, huyện An Dương, nên đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đỗ Văn K đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội đồng thời còn là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp, bản thân lại là người sử dụng ma tuý nên cần xét xử nghiêm, cách ly bị cáo một thời gian để có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo, đồng thời để bị cáo cai nghiện ma túy và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ, do vậy Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị, tạo điều kiện cho bị cáo sớm được trở về với xã hội là phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người sử dụng ma tuý, không có tài sản, thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với lượng ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói đã được niêm phong trong phong bì giấy. Xét đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại Oppo màu xanh thu giữ của bị cáo. Xét đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng khi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[6] Đối với Nguyễn Công Quyền, K khai là người bán ma túy cho K. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh khám xét nơi ở của Quyền, nhưng do Quyền vắng mặt tại địa phương nên chưa thực hiện được. Ngoài lời khai của K, không còn tài liệu chứng cứ nào khác về việc này nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn K 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 14/12/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói mẫu vật đựng trong phong bì niêm phong số 1025MT/PC09.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại Oppo A11 màu xanh (đã qua sử dụng).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 giữa Công an huyện An Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đỗ Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - TAND TP Hải Phòng; - Công an huyện An Dương; - Trại tạm giam, nhà tạm giữ; - Bị cáo; - Thi hành án dân sự; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chỉnh |