vanban.org

Bản án 102/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Huỳnh N:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Huỳnh N ly hôn với ông Nguyễn Minh H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Bảo A, sinh ngày: 11/3/2015 và cháu Nguyễn Huỳnh Trọng Nn, sinh ngày: 19/12/2021 cho bà Huỳnh Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Huỳnh Anh Đ, sinh ngày: 20/6/2017 cho ông Nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Huỳnh N:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÁNH LINH,
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 102 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25 – 9 – 2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thông Phi;

2. Bà Trần Thị Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Bá Thành – Thư ký TAND huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 281/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 7 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Huỳnh N, sinh năm: 1995, nơi cư trú: Tổ X, ấp X, xã A.H, huyện C.B, tỉnh T.G;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm: 1992, nơi cư trú: Xóm Y, thôn X, xã Đ.Bh, huyện T.L, tỉnh B.T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/7/2024, và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Huỳnh N trình bày:

Bà N và ông Nguyễn Minh H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau và được UBND xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 09, ngày 13/02/2015. Bà N và ông H có 03 người con chung là cháu Nguyễn Huỳnh Bảo Anh, sinh ngày: 11/3/2015, cháu Nguyễn Huỳnh Trọng Nhân, sinh ngày: 19/12/2021, và cháu Nguyễn Huỳnh Anh Đức, sinh ngày: 20/6/2017.

Sau khi kết hôn, bà N và ông H sống chung với nhau tại nhà mẹ của bà N ở Tổ 2, ấp 2, xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, đến năm 2018, bà N và ông H chuyển về sinh sống tại nhà của cha, mẹ ông H ở xã Đức Bình, huyện Tánh Linh. Trong thời gian sống chung, ông H thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình đối với bà N, đến năm 2021, vì ông H dùng dao chém vào lưng bà N, đe dọa giết bà N, vì quá lo sợ nên bà N dẫn các con về lại nhà mẹ bà N sinh sống cho đến nay. Hiện nay, các cháu Bảo Anh, cháu Trọng Nhân đang sống chung vơi bà N tại tỉnh Tiền Giang, còn cháu Anh Đức đang sống với ông H tại huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Nhận thấy, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên bà N khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Ly hôn với ông Nguyễn Minh H;

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Bảo A, sinh ngày: 11/3/2015 và cháu Nguyễn Huỳnh Trọng N, sinh ngày: 19/12/2021 cho bà Huỳnh Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Huỳnh Anh Đ, sinh ngày: 20/6/2017 cho ông Nguyễn Minh H trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.

Hiện tại, bà N đang kinh doanh tiệm chăm sóc sắc đẹp, thu nhập mỗi tháng bình quân khoảng 15 triệu đồng, đủ khả năng chăm sóc và giao dục con, nên bà N không yêu cầu cấp dưỡng. Ông H hiện đang là tài xế chạy xe tải đường dài, thu nhập bình quân mỗi tháng theo bà N được biết vào khoảng 15 triệu đồng, đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục con chung. Do vậy, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, bị đơn là ông Nguyễn Minh H trình bày: Vợ, chồng có phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau là bình thường, mặc dù hiện tại ông H và bà N không còn sống chung với nhau, ông H đang sống với cháu Đức tại xã Đức Bình, huyện Tánh Linh, còn bà N đang sống với cháu Bảo Anh và cháu Trọng Nhân tại xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nhưng ông H không muốn ly hôn vì muốn níu giữ hạnh phúc gia đình, tuy nhiên do bà N đã cương quyết nên ông đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà N.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý, tống đạt các văn bản tố tụng, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác tình trạng hôn nhân của bà Huỳnh Thị Huỳnh N và ông Nguyễn Minh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đủ căn cứ để ly hôn, trên cơ sở quyền lợi về mặt của con chung, nhận thấy việc giao con chung cho bà N và ông H trực tiếp nuôi dưỡng như yêu cầu khởi kiện là phù hợp, chính vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Bà Huỳnh Thị Huỳnh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Minh H, giao cháu Nguyễn Huỳnh Bảo A, sinh ngày: 11/3/2015 và cháu Nguyễn Huỳnh Trọng Nn, sinh ngày: 19/12/2021 cho bà Huỳnh Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Huỳnh Anh Đ, sinh ngày: 20/6/2017 cho ông Nguyễn Minh H trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Minh H có nơi cư trú tại thôn 2, xã Đức Bình, huyện Tánh Linh nên thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tại phiên tòa, vắng mặt bà Huỳnh Thị Huỳnh N nhưng bà N đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt bà N.

Trên cơ sở lời trình bày của bà N về tình trạng hôn nhân, ngày 26/7/2024, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Tiến, là mẹ ruột của ông Nguyễn Minh H, theo đó, bà Tiến xác nhận bà N và ông H thường xuyên mâu thuẫn, cải vã do tính cách, có lần do nóng nảy, ông H có dùng dao hù họa đánh bà N, sau đó bà N chuyển về sinh sống tại tỉnh Tiền Giang, hiện các cháu Bảo Anh và cháu Trọng Nhân sống chung với bà N tại tỉnh Tiền Giang, còn cháu Anh Đức đang sống chung với ông H. Tại Biên bản lấy lời khai lập ngày 13/8/2024, bà Nguyễn Lệ Thủy, là mẹ ruột của bà Huỳnh Thị Huỳnh N, cũng xác định quan hệ hôn nhân của bà N và ông H đã rơi vào tình trạng trầm trọng, ông H thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình, đe dọa hành hung bà N, hiện nay các cháu Bảo Anh và Trọng Nhân đang sống chung với bà N tại tỉnh Tiền Giang, còn cháu Anh Đức đang sống chung với ông H và gia đình tại huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” (Khoản 1 Điều 19); “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau” (Điều 21). Trên cơ sở trình bày của đương sự, tài liệu, chưng cứ do Tòa án thu thập được và quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, đủ cơ sở để xác định hôn nhân của bà N, ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Ông H cũng thống nhất với yêu cầu ly hôn của bà N, do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà N, về việc việc ly hôn với ông H là có căn cứ và cần được chấp nhận.

Tại Biên bản lấy ý kiến, nguyện vọng của con chưa thành niên, lập ngày 13/8/2024, cháu Bảo Anh mong muốn được sống chung với bà N. Tòa án đã triệu tập ông H tham gia giải quyết vụ án, tuy nhiên ông H không có mặt, không dẫn con chung từ đủ 07 tuổi là cháu Anh Đức đến Tòa án để trình bày ý kiến, nguyện vọng, tuy nhiên nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên chỉ là một trong những yếu tố Tòa án phải xem xét trong quá trình giải quyết vụ án, việc quyết định giao con cho bên nào trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con (Công văn số 01/GĐ-TANDTC, ngày 05/01/2018, của TAND tối cao). Tại phiên tòa, ông H thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà N về vấn đề con chung. Trên cơ sở xem xét, đánh giá điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ, bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao cháu Nguyễn Huỳnh Bảo A, sinh ngày: 11/3/2015 và cháu Nguyễn Huỳnh Trọng N, sinh ngày: 19/12/2021 cho bà Huỳnh Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Huỳnh Anh Đ, sinh ngày: 20/6/2017 cho ông Nguyễn Minh H trực tiếp nuôi dưỡng, như yêu cầu khởi kiện của bà N là có căn cứ và được chấp nhận theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024, của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Bà Huỳnh Thị Huỳnh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự,

- Điều 19, Điều 21, Điều 56, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024, của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Huỳnh N:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Huỳnh N ly hôn với ông Nguyễn Minh H.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Bảo A, sinh ngày: 11/3/2015 và cháu Nguyễn Huỳnh Trọng Nn, sinh ngày: 19/12/2021 cho bà Huỳnh Thị Huỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Huỳnh Anh Đ, sinh ngày: 20/6/2017 cho ông Nguyễn Minh H trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Minh H, bà Huỳnh Thị Huỳnh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

2. Bà Huỳnh Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo Biên lai thu số 0006058, ngày 04/7/2024.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ