- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 102/2023/HS-ST Ngày 11-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Văn Xiến và bà Hoàng Thị Hội.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị L Giang Thư T a án nhân dân huy n Mộc Châu tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại T a án nhân dân huy n Mộc Châu tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 98/2023/TLST-HS ngày 17/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 104/2023/QĐXXST-HS ngày 31/3/2023 đối với:
Bị cáo: Hà Văn T sinh năm: 1981 tại huy n M tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản H xã L huy n M tỉnh Sơn La; nghề nghi p: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; đảng phái đoàn thể: Không; con ông Hà Văn P (đã chết) và bà Hà Thị U - sinh năm: 1953; bị cáo có vợ là Lò Thị L (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ngày 17/3/2009 Toà án nhân dân huy n Mộc Châu tỉnh Sơn La xử phạt Hà Văn T 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tu (đã được xoá án tích).
+ Ngày 30/6/2017, Toà án nhân dân huy n Mộc Châu tỉnh Sơn La xử phạt Hà Văn T 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tu (đã được xoá án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 23/02/2023 đến nay.Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ ngày 23/02/2023 t công tác Công an xã Lóng Sập phối hợp cùng Đồn biên ph ng Cửa hẩu Lóng Sập làm nhi m vụ tại bản P, xã Lp huy n M tiến hành iểm tra đối với Hà Văn T đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua iểm tra phát hi n Hà Văn T đang cất giấu trong người 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng 200 viên nén màu hồng và 01 túi nilon màu xanh đựng 170 viên nén màu hồng bề mặt mỗi viên có chữ WY nghi là Methamphetamine. T khai nhận đó là ma tu của T cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm t công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang niêm phong vật chứng bàn giao T cùng tang vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Châu để điều tra điều tra làm rõ.
Ngày 23/02/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Châu đã tiến hành xác định hối lượng 200 viên nén màu hồng có hối lượng 19 4 gam lấy 03 viên có hối lượng 0 29 gam làm mẫu trưng cầu giám định mẫu có hi u T1. Túi thứ 2 đựng 170 viên nén màu hồng có hối lượng 16 4 gam lấy 03 viên có hối lượng 0 29 gam làm mẫu trưng cầu giám định mẫu có hi u T2.
Tại Kết luận giám định số 455 ngày 24/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T2 đều là ma túy; Loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định T1 là 0,29 gam. Khối lượng mẫu gửi giám định T2 là 0,29 gam Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 35,8 gam loại Methamphetamine”
Quá trình điều tra Hà Văn T hai nhận: Bản thân nghi n chất ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 22/02/2023, T đi bộ từ nhà đến hu vực biên giới thuộc bản P, xã L huy n Mộc Châu mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại hu vực gần biên giới thuộc bản Pu Nhan T gặp và h i mua được của một người đàn ông dân tộc Mông hông quen biết 01 túi nilon màu hồng bên trong đựng 200 viên và 01 túi nilon màu xanh đựng 170 viên đều là hồng phiến (Methamphetamine) với giá 3.000.000 đồng. Sau hi mua được ma tu T cất gói ma túy vào bên trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi về. Khi đi đến đoạn đường dân sinh thuộc bản P, xã L thì gặp t công tác Công an xã Lóng Sập cùng Đồn biên ph ng Cửa hẩu Lóng Sập iểm tra phát hi n bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn T trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đ i, b sung thêm nội dung nào làm thay đ i nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Vi n kiểm sát.
Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 16/3/2023 của Vi n iểm sát nhân dân huy n Mộc Châu truy tố bị can Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ” theo điểm b hoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên t a đại di n Vi n iểm sát nhân dân huy n Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
1. Áp dụng điểm b hoản 3 Điều 249; điểm s hoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 10 năm 06 tháng đến 11 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt b sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; hoản 1 điểm a, c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: “Vật chứng vụ Hà Văn T bắt ngày 23/02/2023 (01 (một) túi nilon màu hồng bên trong chứa 197 viên nén màu hồng = 19 11 gam; 01(một) túi nilon màu xanh bên trong chứa 167 viên nén màu hồng = 16 11 gam và v gói niêm phong ban đầu ” (kết luận giám định số 455/24.02.2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La thì mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T2 là ma túy; loại Methamphetamine); 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Hà Văn T, ngày 23/2/2023.
3. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Sau hi đại di n Vi n iểm sát phát biểu quan điểm xử l các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại di n Vi n iểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như
sau:
Về tố tụng: Hành vi quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n Mộc Châu Điều tra viên Vi n iểm sát nhân dân huy n Mộc Châu Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo hông có iến hiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên t a bị cáo Hà Văn T hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã hai tại cơ quan Điều tra số ma túy bị t công tác Công an xã Lóng Sập phối hợp cùng Đồn biên ph ng Cửa hẩu Lóng Sập thu giữ của bị cáo vào ngày 23/02/2023 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông dân tộc Mông với giá 3.000.000 đồng mục đích sử dụng cho bản thân. Lời hai của bị cáo hông có nội dung gì thay đ i so với lời hai tại cơ quan Cảnh sát điều tra bị cáo hẳng định vi c hai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên t a ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguy n và đúng với hành vi đã thực hi n.
Xét lời hai của bị cáo là hoàn toàn tự nguy n và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do t công tác Công an huy n Mộc Châu lập vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 23/02/2023; biên bản niêm phong đồ vật tài li u bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng hối lượng lấy mẫu giám định niêm phong lại vật chứng đồ vật tài li u bị tạm giữ; bản ết luận giám định số 455 ngày 24/02/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ết luận: “Mẫu gửi giám định hi u T1 T2 đều là ma túy; Loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định T1 là 0 29 gam. Khối lượng mẫu gửi giám định T2 là 0 29 gam T ng hối lượng ma túy thu giữ là 35 8 gam loại Methamphetamine”. Lời hai của bị cáo phù hợp với lời hai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài li u chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Hà Văn T là người có đủ năng lực trách nhi m hình sự nhận thức được tác hại của vi c tàng trữ sử dụng ma túy. Nhưng do nghi n chất ma túy nên ngày 23/02/2023 bị cáo Hà Văn T đã có hành vi tàng trữ cất giấu trái phép 35,8 gam Methanphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b hoản 3 điều 249 Bộ luật hình sự có mức phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Hà Văn T không vi phạm các tình tiết định hung tăng nặng hác nên chỉ bị xét xử ở điểm b hoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản l các chất ma tu gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.
Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên t a ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành hẩn khai báo bị cáo có bố đẻ là ông Hà Văn Pấng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương háng chiến hạng Ba đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s hoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghi n hút chất ma túy. Bị cáo có 02 tiền án ngày 17/3/2009, Toà án nhân dân huy n Mộc Châu tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; ngày 30/6/2017 Toà án nhân dân huy n Mộc Châu tỉnh Sơn La xử phạt 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tu (đều đã được xoá án tích).
Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra h i đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe giáo dục và ph ng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại hoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội c n có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công hai tại phiên t a hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghi n ma túy sống chung với gia đình, gia đình thuộc di n hộ nghèo hông có tài sản riêng có giá trị nên hông áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc phong bì thư c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: “Vật chứng vụ Hà Văn T bắt ngày 23/02/2023 (01 (một) túi nilon màu hồng bên trong chứa 197 viên nén màu hồng = 19 11 gam; 01(một) túi nilon màu xanh bên trong chứa 167 viên nén màu hồng = 16 11 gam và v gói niêm phong ban đầu ” (kết luận giám định số 455/24.02.2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La thì mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T2 là ma túy; loại Methamphetamine); 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Hà Văn T, ngày 23/2/2023. Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; hoản 1 điểm a, c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Tài li u hồ sơ xác định bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó hăn thuộc hộ nghèo và bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều ki n kinh tế - xã hội đặc biết hó hăn tại phiên t a bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí do đó bị cáo thuộc trường hợp được xem xét miễn án phí.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền háng cáo trong hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Hà Văn T tại khu vực biên giới thuộc bản P, xã L huy n Mộc Châu. Quá trình điều tra hông xác định được lai lịch địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huy n Mộc Châu không có căn cứ để điều tra làm rõ và xử l .
Thời hạn tạm giam của bị cáo Hà Văn T còn trên 45 ngày nên Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b hoản 3 Điều 249; điểm s hoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 11 (Mười một) năm tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 23/02/2023.
Không áp dụng hình phạt b sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c hoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; hoản 1 điểm a, c hoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư c n nguyên niêm phong một mặt có ghi d ng chữ: “Vật chứng vụ Hà Văn T bắt ngày 23/02/2023 (01 (một) túi nilon màu hồng bên trong chứa 197 viên nén màu hồng = 19 11 gam; 01(một) túi nilon màu xanh bên trong chứa 167 viên nén màu hồng = 16 11 gam và v gói niêm phong ban đầu ” (kết luận giám định số 455/24.02.2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La thì mẫu gửi giám định ký hiệu T1, T2 là ma túy; loại Methamphetamine); 01 phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Hà Văn T, ngày 23/2/2023.
3. Về án phí : Căn cứ điểm đ hoản 1 Điều 12 hoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hóa 14 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và l phí T a án, bị cáo Hà Văn T được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - T a án tỉnh Sơn La; - Vi n KSND huy n Mộc Châu; - Công an huy n Mộc Châu; - Chi cục THADS huy n Mộc Châu; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La ( hi án có hi u lực); - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |