vanban.org

Bản án 102/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Chí Linh, tỉnh Hải Dương Tuyên án 15/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoài N 13 (mười ba) tháng tù thời hạn tính từ ngày 31-8-2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoài N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:102/2023/HS-ST
Ngày 15-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH- TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mạc Thị Lan và ông Nguyễn Văn Bạn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức- kiểm sát viên

Trong ngày 15 tháng 12 năm 2023 Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh tổ chức xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97A/ 2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hoài N. Tên gọi khác: Không, sinh năm 1988

Tại: Khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương

Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có vợ đã ly hôn; 01 con sinh năm 2008.

Con ông: Lê Văn T, con bà Nguyễn Thị C

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31-8-2023 đến ngày 03-9-2023 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Chí Linh đến nay.

Người chứng kiến:

Anh Hoàng Hữu H, sinh năm 1979

(bị cáo có mặt, anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 31-8-2023 Lê Hoà N điều khiển xe mô tô biên kiểm soát 34F4-1095 (xe N mượn của anh Lê Q, sinh năm 1970 địa chỉ tại khu dân cư T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương) đi đến khu dân cư Chi Ngãi 1, phường Cộng Hoà, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây N gặp và mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch 01 túi nilon ma tuý dạng tinh thể rắn màu trắng để trong vỏ bao thuốc lá Vinataba với giá là 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý N để vào giá để đồ phía trước của xe, rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày khi N đi đến cổng nhà số 15 ngõ 92 thuộc khu dân cư Chi Ngãi 1 phường Cộng Hoà thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện bắt giữ. N đã tự nguyện giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba trong có chứa ma tuý, cùng 01 chiếc xe mô tô BKS 34F4-1095.

Tại Kết luận giám định số 422/KL- KTHS ngày 03-9-2023 của phòng Kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương thể hiện:

Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Lê Hoài N gửi đến giám định có khối lượng là 0,206g là ma tuý loại Methamphetamine. Hoàn lại sau giám định 0,155g ma tuý loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Tại bản cáo trạng số 90/CT-VKS-CL ngày 21-11-2023,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo Lê Hoài N về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Hoài N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử phạt bị cáo Lê Hoài N từ 14 tháng đến 17 tháng thời hạn tính từ ngày 31-8-2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Về vật chứng:

Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, 01 túi nilon màu trắng được đựng trong 01 phong vì niêm phong mặt trước có chữ “Bộ Công an”; Công an tỉnh Hải Dương số 422/KL-KTHS – Cơ quan CSĐT Công an thành phố Chí Linh tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 16 ngày 01-9-2023”. Mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và 03 chữ kỹ niêm phong mẫu; 01 vỏ bao thuốc lá Vinataba.

Về án phí: Bị cáo Lê Hoài N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Lê Hoài N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 31-8-2023 tại trước cổng nhà số 15 ngõ 92 khu dân cư Chi Ngãi 1, phường Cộng Hoà, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương Lê Hoài N đã có hành vi cất giấu 0,206 gam ma tuý loại Methamphetamine tại giá để đồ xe mô tô Biển kiểm soát 34F4-1095 của anh Lê Q để sử dụng cho bản thân, thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng nêu trên.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo đối với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về hành vi của mình. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt: Khi xem xét đánh giá hình phạt cũng cần đánh giá về nhân thân của bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự. Tuy nhiên hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng:

Đối với 0,155 gam ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, 01 vỏ túi nilon màu trắng, 01 vỏ bao thuốc lá Vianataba là vật không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe moto nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 34F4-1095 của Lê Q khi N mượn xe máy đi anh Q không biết N dùng để đi mua ma tuý. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Q là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo Lê Hoài N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong vụ án này đối với anh Lê Q cho N mượn xe mô tô không biết N mượn xe để đi mua ma tuý nên không đặt ra việc xử lý đối với anh Q. Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Lê Hoài N không xác định được nhân thân, lý lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

1.Tuyên bố bị cáo Lê Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Lê Hoài N 13 (mười ba) tháng tù thời hạn tính từ ngày 31-8-2023.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

4. Về vật chứng:

Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý hoàn lại sau giám định; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, 01 túi nilon màu trắng được đựng trong 01 phong vì niêm phong mặt trước có chữ “Bộ Công an; Công an tỉnh Hải Dương” số 422/KL-KTHS – Cơ quan CSĐT Công an thành phố Chí Linh tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 16 ngày 01-9-2023”. Mặt sau có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương và 03 chữ kỹ niêm phong mẫu; 01 vỏ bao thuốc lá Vianataba.

( Tình trạng cụ thể của vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh ngày 23-11-2023).

5. Về án phí: Bị cáo Lê Hoài N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ